Đố vui lịch sử Việt Nam

Đố vui, đố vui ???. Mời bà con xắn tay vô giải đáp...

Đố vui lịch sử Việt Nam

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 10:51 am

1
Ðố ai khoẻ mạnh phi thuờng
Nhổ cây to, đánh dẹp phuờng hại dân
Làm quan, trừ kẻ loạn thần
Về sau lại phá tan quân Chiêm Thành?

2
Ông trạng nào mới muời hai tuổi
Bị cho về học hỏi ít năm
Sứ Tàu sau đó sang thăm
Lại ra đối đáp khó khăn chẳng từ?

3
Thanh liêm vốn sẵn tính trời
Tiềm muôn bạc vạn chẳng dời lòng ngay
Tài đối đáp, thật là hay
Trạng nguyên hai nuớc, ông này là ai?






Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Sửa lần cuối bởi funny vào ngày Thứ ba 13 Tháng 6 2006 11:02 am với 1 lần sửa.
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 10:57 am

Câu 1 thì nhớ chưa ra
Câu 2 chính xác là pa Nguyễn Hiền
Câu 3 nhớ nhớ quên quên
Mạc Đĩnh Chi,"LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN" đời Trần!


Nhớ sao nói vậy,ko biết đúng bao nhiêu %!
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 12:26 pm

Trạng Nguyên Luỡng Quốc đúng rồi
Đĩnh Chi họ Mạc không người thứ hai
Nguyễn Hiền chính xác không sai
Giải nốt câu 1 mới tài chuột nha


Tặng chuotmomdai 1tràng vỗ tay để tiếp tục giải đáp =D> =D> =D> =D>=D> =D>


4
Mới bảy tuổi đã lên ngôi
Việc dân việc nuớc trọn đời lo toan
Mở truờng thi, chọn văn quan
Lập Quốc Tử Giám luyện hàng danh nhân?


5
Có ông tri huyện từ quan
Lục niên ẩn tích dạy đàn học sinh
Giúp mưu Nguyễn Huệ Bắc Bình
Ðố ai biết được tiên sinh tên gì?


6
Vua nào tám tuổi lên ngôi
Dẫu rằng nhỏ bé mà nguời thông minh
Ngai vàng hư vị nào vinh
Vì dân trốn khỏi hoàng thành giữa đêm?






Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 1:01 pm

Thái Tông_Trần Cảnh lên ngôi
Mới 7 tuổi đã giúp đời lo dân!
Con tạo thật khéo xoay vần
Chiêu Hoàng thoái vị-Nhà Trần lên thay!

Có ông Nguyễn Thiếp từ quan
La Sơn Phu Tử_chiếu ban mời về
Bắc Bình Vương cũng phải mê
Nghệ An đất ấy đề huề danh nhân

Duy Tân tám tuổi lên ngôi
Ngai vàng không thích,thích đời tự do
Dẫu rằng ngôi đế thật to
Luyện(nữ)binh chống Pháp cứu cho dân mình
Giữa đêm trốn khỏi hoàng thành....


Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
[/quote]
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 1:47 pm

Câu 6: Duy Tân chính xác
Câu 5: La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đúng rồi tuy nhiên chính xác hơn nữa thì phải sửa chữ Nghệ An thành Nghệ Tĩnh hoặc Hà Tĩnh.... (Hà Tĩnh đất ấy đề huề danh nhân )

Câu 4:
Thái Tông _ Trần Cảnh lên ngôi
Quốc Tử Giám đã bao người vinh danh
Sử sách ghi rõ rành rành
Cớ sao Trần Cảnh lại giành công lao..


Còn 2 câu: 1 và 4, cố lên!!!




Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 2:37 pm

funny đã viết:Câu 6: Duy Tân chính xác
Câu 5: La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đúng rồi tuy nhiên chính xác hơn nữa thì phải sửa chữ Nghệ An thành Nghệ Tĩnh hoặc Hà Tĩnh.... (Hà Tĩnh đất ấy đề huề danh nhân )

Câu 4:
Thái Tông _ Trần Cảnh lên ngôi
Quốc Tử Giám đã bao người vinh danh
Sử sách ghi rõ rành rành
Cớ sao Trần Cảnh lại giành công lao..


Còn 2 câu: 1 và 4, cố lên!!!




Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam


Trần Thái Tông tên thật Trần Cảnh, là con trai của Trần Thừa,ông gọi Thái sư Trần Thủ Độ bằng chú!
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 2:44 pm

Thì có ai tranh luận về tiểu sử của Thái Tông _ Trần Cảnh, vị vua đầu tiên của triều Trần hiển hách đâu.
Nhưng mà chuotmomdai mà gán cho Trần Cảnh là người lập Quốc Tử Giám là cướp công của người khác đấy nhé!! Đáng đánh đòn chuột lắm :D :D
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 4:34 pm

funny đã viết:Thì có ai tranh luận về tiểu sử của Thái Tông _ Trần Cảnh, vị vua đầu tiên của triều Trần hiển hách đâu.
Nhưng mà chuotmomdai mà gán cho Trần Cảnh là người lập Quốc Tử Giám là cướp công của người khác đấy nhé!! Đáng đánh đòn chuột lắm :D :D


Tui học 12/5 chứ đâu học chuyên Sử đâu mà nhớ hết từng ấy người?

Câu 1: tui ko nhớ tên vị tướng ấy,nhưng nhớ là ông ấy đã dẹp loạn Tam Vương dưới thời Lý Thái Tông.Khi hoàng tử Phật Mã(Lý Thái Tông)lên ngôi thì 3 vị hoàng tử Võ Đức Vương,Đông Chinh Vương,Dực Thánh Vương đã mang quân bản bộ đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử thì vị tướng này là 1 trong những người có công dẹp loạn ấy.
Để ngồi nhớ tên lại rùi nói sau,lâu quá rùi!
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 5:00 pm

Có người ở đất Băng Sơn(Thanh Hóa)
Giúp vua dẹp loạn được phong tước hầu
Dẹp Tam Vương,lập công đầu
Lê Phụng Hiểu chém bay đầu Võ Vương!


Tui nhớ rùi,hehe đúng chưa funny??Lê Phụng Hiểu chém bay đầu Võ Đức Vương trong cung,được vua phong chức đô thống,sau này dẹp loạn Chiêm Thành ko nhận tước mà chỉ nhận ruộng.Sự tích "Thác Đao Điền " từ đó mà ra!
Sửa lần cuối bởi chuotmomdai vào ngày Thứ ba 13 Tháng 6 2006 11:01 pm với 1 lần sửa.
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi chuotmomdai » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 5:20 pm

Càn Đức niên hiệu Lý Nhân Tông
Lên ngôi khuyến khích chuyện nhà nông
Có mẹ Ỷ Lan làm cố vấn
Lập nên Quốc Tử(Giám) luyện anh hùng!
Hình ảnh
Hình thay chữ ký
Hình đại diện của thành viên
chuotmomdai
 
Bài viết: 294
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 9:59 am

Bài viết mớigửi bởi songhan » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 5:56 pm

Quốc Tử Giám

Văn miếu là nơi thờ cúng Khổng Tử cùng môn đệ và các danh nho đời sau (như Chu văn An) có công truyền bá, giữ gìn Chính đạo (đạo Nho) để tỏ đạo học có nguồn gốc, Xuân Thu nhị kỳ vua thân đến tế.
Quốc tử giám thoạt đầu là chỗ dậy các Hoàng tử sau mở rộng cho con các quan đại thần rồi con nhà bình dân ai thông tuệ cũng được vào học (1).Quốc tử giám ở Thăng-long dựng ngay sau văn miếu. Năm 1802 vua Gia-Long bãi quốc tử giám Thăng-long, đem lập lại ở Phú-xuân. Và để đền bù cho dân Hà-thành đã dựng Khuê văn các (2) trong văn miếu, trước hồ Thiền-quang, kế bên những tấm bia đề danh Tiến sĩ các khoa nhà Lê và Nguyễn sơ. Hà-nội ngày nay tuy không còn quốc tử giám nhưng vẫn giữ cái tên "nhà Giám" để trỏ văn miếu.
Quốc tử giám cũng như văn miếu và Khoa cử đều xuất phát từ Trung quốc. Nhà Đường đặt ra quốc tử giám coi việc học chính, quản lĩnh sáu học quán là : quốc tử giám, Thái học, Tứ môn học, Luật học, Thư học, Toán học. Đứng đầu quốc tử giám là Tế tửu, Tư nghiệp làm Phó. Con quan, tùy phẩm trật của cha, và con nhà bình dân học ở học quán khác nhau. Lại có hai văn quán riêng cho con các hoàng thân quốc thích.
Đời Minh ở Nam kinh, Bắc kinh đều có quốc tử giám, các quan Tế tửu, Tư nghiệp, Bác sĩ lo việc giáo tập. Minh Thái Tổ đặt ra Quốc tử học, ngoài học văn chương còn tập luyện chính trị, hàng năm lấy nhiều sinh viên ra làm quan (3).



I- Quốc tử giám Thăng Long

1070 Dựng văn miếu ở Thăng long.


1076 Xây quốc tử giám ở phía sau văn miếu làm nơi học tập cho Hoàng Thái tử.


1087 Dựng gác Bí thư chứa sách vở hiếm.


1253 Trần Thái Tông lập Quốc học viện ở kinh đô cho con nhà quyền quý vào học, sau mở rộng cho con nhà bình dân người nào tuấn tú cũng được học. Lập Giảng vũ đường, xuống chiếu gọi học giả vào giảng Tứ Thư, Ngũ Kinh (4).


1434 Thi học sinh trong nước, lấy đỗ trên 1000 người, chia làm ba hạng : hạng nhất và nhì đưa vào quốc tử giám, hạng ba cho về nhà lộ học. Đều miễn dao dịch.
Cho các Giám sinh và Sinh đồ ở huyện được mang mũ áo và cho Giáo thụ quốc tử giám cùng giáo chức ở các lộ được đội mũ cao sơn, trước đây đội mũ thái cổ (5).


1483 Đầu triều Lê, nhà Thái học vẫn theo nếp cũ nhà Trần, quy chế phần nhiều còn thiếu sót. Nay hạ lệnh sửa rộng ra, xung quanh có tường bao. Đằng trước nhà Thái học dựng văn miếu, có điện Đạt thành thờ Khổng Tử, đông, tây giải vủ thờ Tiên hiền và Tiên nho, điện Cảnh-phục làm nơi túc yết (các quan dự tế túc trực trước ngày chính tế). Đằng sau nhà Thái học dựng cửa Thái học, nhà Minh Luân (làm sáng tỏ luân lý), Giảng đường phía đông và tây, đặt thêm kho Bí thư chứa ván gỗ khắc thành sách. Bên đông và tây nhà Thái học làm nhà có tường bao cho học sinh ba xá, mỗi bên ba dẫy, mỗi dẫy 25 gian làm chỗ nghỉ ngơi cho học sinh.


1484 Bắt đầu dựng bia Tiến sĩ ở văn miếu, dựng ngược lại từ khoa 1442 (6).


1645 Định hàng năm tu bổ hay xây dựng thêm ở quốc tử giám, lát gạch, dọn cỏ v.v... Lệ cũ, hạng binh ở các huyện xã, các phường hai huyện Thọ-xương và Quảng-đức (7) phải làm những công tác này. Nay cấp thêm dân xã để trông nom, phụng sự. Chuẩn cho các huyện xã phụ trách cùng hai huyện Thọ-xương, Quảng-đức dự để tiền về công tác này chứ không bắt dân chịu (8).


1723 Cấp 60 mẫu ruộng cho trường Quốc học, các trường Hương học tùy lớn nhỏ cấp từ 16 đến 20 mẫu để lấy hoa lợi chi việc dầu đèn.


1803 Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích tuân theo chỉ dụ của vua Gia-Long ra thú thì sẽ được tha tội nhưng vẫn bị đem ra văn miếu kể tội (làm tôi nhà Lê mà sau lại theo vua Quang-Trung) rồi đánh đòn, Ngô Thì Nhậm bị đánh đến chết (9).
Quốc tử giám bị vua Gia-Long bãi, đem lập lại ở Kinh. Cơ sở nhà học cũ biến thành đền Khải thánh thờ cha mẹ Khổng Tử.


1805 Xây Khuê văn các.


1827 Vua Minh-Mệnh sai quan ở Bắc thành (Thăng-long) kiểm điểm sách vở ở văn miếu như Tứ Thư, Ngũ Kinh, Đại Toàn, Chính sử, Tứ trường văn thể đưa vào kinh, để ở quốc tử giám.



* Vị TRÍ - PHONG CẢNH

Thời Lý, Trần, văn miếu dựng ở thôn Minh-giám, huyện Thọ-xương, phía tây nam phủ Phụng-thiên, trong kinh thành. văn miếu nằm cạnh Thái hồ. Hồ này rộng mênh mông, sau bị lấp chỉ còn phần phía nam trước cổng văn miếu, gọi là Văn hồ. Khu này còn có làng Văn chương vì thời Lê nho sĩ tụ tập ở quốc tử giám để nghe bình văn một tháng hai lần.


Khoảng 1771 cái hồ to ở trước mặt nhà Thái học gọi là ao Bích-thủy. Trước kia dân phố phần nhiều dựa lưng vào ao mà làm nhà. Học quan xây bức tường bình phong để che xe ngựa. Khi ấy Nguyễn Hoãn bổ chức Tri quốc tử giám đuổi phố xá đi mà mở rộng ra, trồng cây, lát đường, lập bia Hạ mã ở trước cửa, làm cho quang cảnh nhà Thái học nghiêm trang (10).
Khoảng đầu đời Tự-Đức, phía đông Văn hồ có Nho sinh quán do một Hương quan làng Minh-giám lập ra cho học trò nghèo các tỉnh tới trọ. Tương truyền chủ quán ra một vế đối, treo giải thưởng nhưng không ai đối được :
Nước Văn hồ tha hồ tắm mát,
Rượu Hồ đình thơm ngát đón làng Văn.
(Hồ đình là cái đình hóng mát hình hồ rượu dựng trên một đảo nhỏ của Văn hồ) (11).


1865 Văn hồ đình bi ký :"Trước văn miếu có hồ lớn, giữa hồ có bãi Kim-châu. Khoảng năm Cảnh-trị (1663-71) Tham tụng Phạm tiên sinh (Phạm Công Trứ) từng sáng tác chùm thơ "Phân thủy thập vịnh" tả cảnh đẹp nơi đây. Thời gian lâu xa, cỏ mọc um tùm quanh hồ, lòng hồ tắc ứ ngày một cạn. Năm 1863, Bố chính Lê Hữu Thanh và Án sát Đặng Tá dựng Bi đình. Năm 1865, Đặng Án sát mua ngói lợp đình, đặt tên là Văn hồ đình. Trong đình khắc mười bài thơ "Phân thủy" của Phạm Công Trứ" (12).


Đầu thế kỷ XX Pháp xây lại Hà nội, phá hủy làng Văn hồ để mở đường, xây nhà.



II- Quốc tử giám thời Nguyễn (Huế)



Năm 1803 Gia-Long bãi quốc tử giám ở Thăng-long, về lập lại ở Phú-xuân.
Buổi quốc sơ, dựng văn miếu ở xã Triều-sơn, huyện Hương-trà, ngoài kinh thành.


1759 Dời văn miếu qua Long-hồ, tả ngạn sông Hương, địa thế nhỏ hẹp.


1803 Dựng Đốc Học đường (cũng gọi là Quốc học đường) gồm : Đốc học Chánh đường và hai tòa nhà hai bên, do Đốc học và Phó Đốc học giảng dậy.


1808 Vì văn miếu ở Long-hồ nhỏ hẹp, chọn đất ở An ninh-dựng văn miếu mới. quy chế rộng rãi, phía tây ngoài kinh thành, gần chùa Thiên-mụ, tức là văn miếu ngày nay.


1820 Ngoài cửa Đại-thành đặt hai nhà : nhà bên tả là Sùng Văn, bên hữu là Duy Lễ (13).
Bắt đầu xây quốc tử giám ở xã An-ninh phía tây ngoài kinh thành (văn miếu ở phía tả quốc tử giám).


1821 Làm xong quốc tử giám. Phía trước là Di Luân đường nơi dậy các Tôn sinh, phía sau là Giảng đường nơi dậy các Giám sinh, hai bên tả hữu là phòng ốc cho học trò ở, bên phải cho các Tôn sinh gồm 3 gian, bên hữu cho Giám sinh gồm 16 gian (14).
Bộ Lễ tâu xin đặt vị vọng bái Tiên thánh ở nhà Di Luân, Giám thần và học sinh đến bái yết rồi hàng ngày ngồi ở Giảng đường dậy để mở con đường Sùng nho thịnh vượng cho muôn đởi.
Bắt đầu đặt các chức Tế tửu (hàng chánh tứ phẩm), Tư nghiệp (hàng tùng tứ phẩm), Học chính (sau cải là Trợ giáo) và Giám thừa, Điển tịch, Điển bộ (15).
Sai Vũ Xuân Biều hàm chánh tam phẩm, sung chức Tế tửu, Giáp Phó Đốc học quốc tử giám Ngô Trọng Vân bổ làm Tư nghiệp. Vua bảo Điều :"Nhà QT là nơi giáo dục nhân tài, ngươi nên mỗi tháng một lần tâu lên ai có tài hạnh thì cấp lương tiền để nên học nghiệp, không thì cách cho về.
Lấy Hương cống triều Lê Thái Doãn Tá làm Tư nghiệp.
1822 Nhà Di Luân bị sét đánh, bộ Công phải sửa chữa. Dựng nhà cho Giám thần ở.
Nhà Di Luân cùng phòng Giám sinh thì cấm đàn bà con gái không được qua lại.


* Lệ cấm này cũng đã được Phạm Đình Hổ nhắc tới trong Vũ Trung Tùy Bút : "Khoảng năm Giáp Thìn, Ất Tỵ đời Cảnh hưng (1784-85), nhà Giám khi trước gặp ngày mồng một, ngày rằm thường họp học trò lại bình văn, các quan đều đến hội họp, người đến nghe bình văn vòng trong vòng ngoài, đông nhu kiến. Khi ấy có một người đàn bà đến trước cửa nhà Giám muốn xin vào xem, lính canh đuổi không cho vào. Bà ta đứng trông vào trước cửa nhà Giám vái lạy mà rằng :"Chẳng hay khi xưa thánh nhân lập giáo thế nào mà nay các quan hễ hạ ngòi bút xuống phán xét một lời là không còn kêu ca vào đâu được nữa ?". Người đàn bà ấy vừa lạy vừa khóc mà đi. Ôi ! người đàn bà quê mùa ấy chẳng trách làm chi, nhưng các ngài là bậc văn học, làm nên quan mà để cho dân đến nỗi thế thì nỡ lòng nào ?" (16).


1825 Sửa nhà Di Luân, Giảng đường, nhà học Tôn sinh, dựng lại phòng ốc các Giám sinh : nhà ngói ở hai bên tả hữu đều 20 gian. Phía trước nhà Di Luân năm trước xây tường gạch, nay xây thêm tường gạch ở ba mặt tả, hữu và hậu.


1850 Dựng nhà cho Học quan phía hữu 15 gian, dựng thêm phòng ốc cho Ấm sinh, Giám sinh ở phía tả là 19 gian.


1896 Xây trường Quốc học. Dựng nơi công thổ tả doanh Thủy sư một tòa Đốc giáo đường 3 gian, 2 chái, nơi cư trú của các Trợ giáo.


1898 Thêm hai dẫy trường ốc để làm chỗ dậy học, dẫy trước 30 gian. Sau Đốc giáo đường làm nhà vuông (Di Luân), xung quanh xây la thành (tường bao). Mặt trước xây môn lâu hai từng, từng trên treo bảng khắc chữ Quốc học bằng Pháp văn, sơn đỏ thếp vàng, dựng năm 1918 (17) .


1917 Xây quốc tử giám mới : Cổng vào có 4 cột đá trên treo biển gỗ "quốc tử giám". Có hai phần cách nhau một lối đi chạy hết chiều ngang 176 mét 50, từ cửa Cơ mật viện đến hào của Hoàng thành. Xung quanh có tường bao vây. Chính giữa là nhà Di Luân hình vuông, chu vi 85 mét, từng dưới treo bức hoành "Di Luân Đường" chữ vàng, phía sau, bên phải đặt chuông, bên trái đặt trống to (ở kinh thành cấm đánh trống nên chỉ có chuônt báo hiệu giờ học). Từng trên treo biển "Minh Trưng Các" và "Đạo Tâm Hiên", chữ vàng. Các cửa ra vào đều lắp kính sáng sủa. Phòng rộng rãi, là nơi giảng dậy hay để các Học quan hội đồng. Phòng học ở hai bên nhà Di Luân, 4 tòa : 2 trước 2 sau. Hành lang rộng nhưng hướng đông và tây nên có nắng suốt ngày nóng nực. Xung quanh trồng cây.
Khu thứ hai chia làm ba, ngăn bằng tường gạch, gồm "Tân Thơ Viện" ở giữa, có tủ sách sơn son đựng các sách chép tay của Nội các hay sách của tòa Khâm sứ. Hai bên là hai tòa nhà cho Đốc học và Phó Đốc học ở.
Cách quốc tử giám không xa, gần cửa đông nam, ở chân thành có hai dẫy nhà mỗi dẫy 9 phòng, mỗi phòng cho 4 người, và nhà vệ sinh cùng bếp nước. Học sinh phải tự lo liệu việc ăn uống. Khá bừa bãi, bẩn thỉu (18).



III- Học QUAN

Đầu đời Hậu Lê có các chức Tế tửu (dùng đại thần kiêm lĩnh) và các chức Tư nghiệp, Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ, Trợ giáo. Chức Đề điệu thì dùng đại thần không cứ văn hay võ. Đời Trung hưng bãi bỏ chỉ còn Tế tửu (đại thần đứng đầu quốc tử giám), và Tư nghiệp (quan giảng dậy).


1647 Bắt đầu đặt chức Ngũ kinh Bác sĩ. Bấy giờ Giám sinh học Thi, Thư thì nhiều, Lễ ký, Chu Dịch, Xuân Thu thì ít nên đặt chức này để mỗi người chuyên trị một kinh dậy.
Đời Bảo-thái (1720-8) quốc tử giám có Giáo thụ hàm Chánh bát phẩm, Học chính hàm Tùng bát phẩm.


1767 Nguyễn Nghiễm làm Tri quốc tử giám, Vũ Miên kiêm Tế tửu, Lê Quý Đôn, Phan Lê Phiên làm Tư nghiệp hàng ngày giảng dậy ở quốc tử giám (19).
1803 Gia-Long đặt 1 Đốc học, 2 Phó Đốc học để dậy ở Đốc học đường (cũng gọi là Quốc học đường).


1804 Vua đến nhà Quốc học triệu các Học thần bàn bạc điều cốt yêu trong việc học của người xưa. Chọn con em Tôn thất từ 10 đến 15 tuổi cho vào học.
Cấp lương tháng cho các quan ở quốc tử giám : Chánh Đốc học được 6 quan tiền, 6 phương gạo (20), Phó Đốc học được 5 quan tiền, 5 phương gạo.


1816 Lấy Hàn lâm viện Chế cáo Nguyễn Đăng Ngạn làm Chánh Đốc học quốc tử giám, Tiến sĩ đời Lê là Nguyễn Du (không phải tác giả Truyện Kiều) làm Phó Đốc học quốc tử giám. Du vì già xin từ.


1821 Vua Minh-Mệnh bỏ các chức Đốc học, bắt đầu đặt 1 Tế tửu (chánh tứ phẩm), 2 Tư nghiệp (tùng tứ phẩm) và các chức phụ tá : Giám thừa, Điển tịch, Điển bộ v.v... Dụ cho Tế tửu một tháng một lần tâu, ai có tài hạnh thì cấp lương tiền học nghiệp, không thì cách cho về.


1822 Đặt hai chức Học chính ở quốc tử giám (tùng lục phẩm) chuyên dậy các Tôn sinh, sai Tế tửu, Tư nghiệp chọn hai, ba người có học hạnh bổ vào.


1823 Vua triệu Đốc học Gia-định Nguyễn Đăng Sở vào bệ kiến, hỏi :"Năm ngoái có chiếu phải tiến cử Học sinh mà Gia-định không cử người nào là tại sao ?". Sở tâu :"Chiếu gửi từ thành đến trấn, từ trấn đến phủ huyện, chưa từng hỏi đến Học thần nên tuy có biết cũng không dám vượt quyền mà cử". Vua phán :"Muốn biết sĩ tử mà không hỏi Học thần thì hỏi ai ?". Lập tức hạ lệnh cho quan tỉnh chuyển sang hỏi Học thần chọn người có thể cống cử.
1880 Quan ở Giám nếu có học trò đi thi hỏng 1 tên thì giáng 1 cấp, hỏng 2 tên thì giáng 2 cấp, hỏng 3 tên thì giáng 3 cấp, được lưu lại làm việc, hỏng 4 tên, giáng 4 cấp, điều đi nơi khác, hỏng 5 tên thì cách chức (21).



IV - Học TRÒ

Danh hiệu - Học trò ở Giám có nhiều loại :


a- Tôn sinh là con em trong Hoàng phái, do Tôn nhân phủ tiến cử.


1804 Chọn con em Tôn thất từ 10 đến 15 tuổi cho vào quốc tử giám học.


b- Ấm sinh là con các quan đại thần.


1829 Vua dụ bộ Lễ :"Đường lối thịnh trị tất phải thành tựu nhân tài mà phương pháp thành tựu là phải bồi dưỡng từ trước. Đời xưa con trưởng các công khanh đại phu và những người tuấn tú con nhà thường dân đến 15 tuổi thì vào Đại học, phép giáo dục đầy đủ. Năm trước từng cho quan văn võ tam phẩm mỗi viên được một người con vào nhà Giám học tập cùng với Giám sinh, nay chuẩn cho các con quan Kinh văn từ tứ phẩm, ngũ phẩm, thì người con trưởng được bổ làm học sinh quốc tử giám. Lương bổng và quy trình giảng tập chuẩn cho các bộ bàn định, thi hành, thành tài sẽ bổ dụng.


1830 Con các quan văn học ở quốc tử giám nếu cha có lỗi bị cách thì con xóa sổ ; cha bị giáng đổi thì con được lưu học nhưng chỉ cho nửa lương.


c- Học sinh là học trò tuấn tú của lớp bình dân cống từ mỗi huyện phủ, khảo sát lại, có khá mới cho vào quốc tử giám.


1822 Năm nay mỗi huyện cống một người Học sinh, từ sau hàng năm mỗi phủ cống một người, do quan ở Giám phúc hạch, trúng bốn kỳ thì làm danh sách tâu lên để cấp lương ăn học ở quốc tử giám. Gập khoa thi Hội, quan ở Giám lại sát hạch rồi nếu đỗ thì tâu xin cho cùng với Hương cống vào thi. Người nào văn học không thông thì cho về, bắt phủ huyện cử người khác điền vào.
Những người nộp quyển dự sát hạch vào lớp cao đẳng ở quốc tử giám từ 1821 về trước thì các Tế tửu, Tư nghiệp gọi đến ra bài thi ở trước mặt, lấy đỗ 100 tên, chia làm ba hạng, làm danh sách do bộ Lễ đề đặt để cho làm Giám sinh, cấp tiền gạo theo thứ bực khác nhau. Lại cấp thêm cho áo lam, khi có tiết Đại khánh đều được đi chiêm bái.


d- Cống sinh là Nho sĩ được chọn lọc từ mỗi tỉnh, do Tế tửu và Tư nghiệp sát hạch lại, có thực tài mới cho vào quốc tử giám học.


e- Hương cống / Cử nhân thi Hội hỏng, tình nguyện xin vào Giám học thì bổ làm Giám sinh, cấp mỗi tháng ba quan, hai phương gạo , 5 cân dầu.


g- Giám sinh là tên gọi chung các Hương cống / Cử nhân và các Học sinh được cống cử từ địa phương, đã sát hạch lại, được theo học lớp cao đẳng.
1829 Giám sinh tọa Giám mà ốm chết thì cấp tiền tuất.



A- Học quy

a- Trước thời Nguyễn

1429 Định chương trình học cho Tôn sinh. Bộ Lễ thấy Tôn sinh tọa Giám nhiều người tạ sự cáo nghỉ, tâu :"Từ trước đến nay phép dậy chưa có chuẩn tắc, nên định rõ quy thức :


1) Học sinh Tôn học mỗi quý (tháng cuối mỗi mùa) xét số người học nhiều hay ít cùng nghĩa lý học thuộc hay không, văn nghệ tập tành thông hay không, chia hạng ưu, bình, thứ, liệt, do quan Học chính làm danh sách tâu lên. Hạng ưu thì tăng một nửa nguyên bổng, hạng bình như thường, hạng thứ giảm một phần ba, hạng liệt giảm một nửa.


2) Định lại lệ xin nghỉ : Phàm gập ngày húy (giỗ) cha mẹ cho nghỉ 5 ngày, cha còn hay mẹ còn thì cho 3 ngày ; gập ngày húy ông bà, cụ kỵ mà cha mẹ mình đều mất cho nghỉ 3 ngày ; đau ốm nhẹ thì điều dưỡng trong phòng, nặng thì cho nghỉ 10 ngày, chưa khỏi lại gia một hạn. Nếu vô cớ thác bệnh không ở tại phòng thì bị đánh roi.


1483 Theo chế độ cũ, con cháu quan viên người nào thi Hương trúng ba kỳ được sung vào Hiệu sinh trường học trong phủ mình, trúng bốn kỳ sung Giám sinh trường Quốc học, còn quân và dân nếu ứng thi có trúng tuyển cũng không được dự.
Nay ra sắc dụ : Quân và dân thi Hương trúng ba kỳ được sung vào Sinh đồ trong phủ mình, trúng bốn kỳ được sung Học sinh trong Tăng Quảng Đường ở quốc tử giám. Giám sinh thi Hội trúng ba trường thì cho sung vào Thượng xá sinh, trúng hai trường thì sung Trung xá sinh, trúng một trường thì sung Hạ xá sinh. Mỗi xá là 100 người, cấp cho tiền lương ba xá mỗi người 9 tiền. Khi bổ dùng bộ Lại và quan ở quốc tử giám bảo cử, chọn bổ ba xá không phân biệt.
Bọn Phó Đô Ngự sử đài Quách Hữu Nghiêm tâu :"Tiền lương ba xá xin đổi : Thượng xá thêm một tiền cho đủ một quan, Trung xá giữ nguyên 9 tiền, Hạ xá giảm một tiền, còn 8. Khi bổ dùng thì cho Thượng xá sinh ba phần, Trung xá sinh hai phần, Hạ xá sinh một phần. Vua y.


1511 Điểm mục : Các Giám sinh, Nho sinh, Sinh đồ cứ đến ngày rầm, mồng một đều phải mũ áo đến điểm mục. Phải tuân theo học quy, tập học nghiệp cho thành tài, giúp ích cho nước. Ngưởi nào dám rong chơi đường xá, trễ bỏ việc học, thiếu điểm mục một lần thì phạt 20 tờ giấy trung chỉ, thiếu ba lần thì đánh 40 roi, thiếu 4 lần thì kiểm xét tâu lên, giao cho bộ Hình xét hỏi, thiếu 5 lần thì tâu lên bắt sung quân.


1721 Định rõ quy chế việc học, phép thi khảo tại các trường Quốc học và Hương học. Tế tửu, Tư nghiệp giảng dậy, con cháu các công thần và nho sĩ đều được học. Mỗi tháng Học quan ra một bài Tiểu tập thi khảo học trò đã được vào học đo các quan Giáo thụ và Học chính quản lĩnh ; bốn tháng trọng (tháng thứ nhì trong mùa) Giám khảo ra một bài Đại tập thi khảo các học sinh và Hương cống do quan ở quốc tử giám chịu trách nhiệm. Ai bốn kỳ (nội khóa, 4 tháng trọng) đều trúng tuyển thì quan ở quốc tử giám đứng ra bảo cử, bộ Lại sẽ theo thứ tự bổ dụng.


1728 Đặt viên quan kiêm giữ công việc quốc tử giám để cho chức trách được long trọng : mùa Xuân, mùa Hạ khảo xét phương pháp, mưu lược và việc binh của quan võ ; mùa Thu, mùa Đông khảo xét việc thảo thiên từ chương, mệnh lệnh của quan văn.
Tham tụng Nguyễn Công Hãng cho là lối văn Bát cổ thu được nhiều tài lạ, muốn biến đổi thể văn, thường dẫn quan văn vào quốc tử giám luyện thể văn Bát cổ của nhà Thanh để mùi giũa lấy nhiều sĩ tử. Định đến kỳ kinh nghĩa thi Hương, thi Hội sẽ dùng văn Bát cổ nhưng chưa kịp thi hành đã mất ngôi Tham tụng (22).


b- Thời Nguyễn

1823 Học sinh do địa phương cống cử đã được làm Giám sinh thì miễn thuế thân, cấp mũ văn tú tài bằng ô sa, áo dài vải đen viền bảo lam, cổ bằng lĩnh trắng, xiêm lụa lam.
Bộ Lễ bàn việc giảng dậy ở nhà Giám :


1- Hàng năm sau khi khai ấn đầu Xuân một ngày thi khai giảng. Giám thần mặc mũ áo thường triều đến Di luân đường làm lễ cáo tiên sư, các Giám sinh mũ áo bồi bái. Lễ xong Giám thần đến Giảng đường ngồi, các Giám sinh thay áo làm lễ lạy chào, lễ xong ngồi nghe giảng.


2- Ngày thường thì trước giảng Kinh Truyện để rõ nghĩa lý rồi giảng chính sử, tính lý. Ngày chẵn học Tứ thư, Ngũ kinh, ngày lẻ học sử, chư tử, tính lý. Đặc biệt nên chỉ bảo những mối vinh nhục và liêm sỉ, nêu rõ những nghĩa hiếu đễ, trung tín để chính tâm thuật.


3- Hàng tháng lấy những ngày mồng 3, 9, 17, 25 làm ngày tập văn bài. Đầu bài thì theo thể văn bốn trường hoặc tập xen lối văn thù phụng. Có yết bảng để khuyến khích.
Những người lười biếng thì phạt roi, tội nặng thì trình lên bộ Lễ để nghiêm trừng và ghi vào học bạ. Quá dốt có thể bị đuổi, còn những người giỏi được thưởng giấy bút .


4- Hàng năm những kỳ khảo hạch thì lấy bốn tháng trọng. Chấm phê cốt tinh tường, không thiên vị.


5- Giám sinh nếu có tệ rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, trai gái thì cho xét cử lên để cách đuổi. Kẻ nào tự tiện bỏ ra ngoài một, hai lần thì Giám thần tự trách mắng, ba lần cho xét cử lên.
6- Hàng năm ba tiết lớn (Vạn thọ, Chánh Đán, Đoan dương) các Giám sinh đều mũ áo vào sân điện Cần chính để chiêm bái.


7- Hàng năm cứ đến cuối tháng chạp, sau ngày cất ấn một ngày thì nghỉ học. Cũng tế lễ như ngày khai giảng.
Vua chuẩn.


1826 Sắp thi Hội, gia ơn cho học trò mỗi người 10 quan. Sai Giám thần xét hạch ai trúng ưu, bình, thứ cho thi cùng với Hương cống, hạng liệt sung bổ thư lại nhập lưu ở các bộ, viện và tả hữu Thừa Ty các dinh trấn.
Đổi cấp mũ áo Giám sinh :
1 mũ Tú tài bằng the nam, đằng trước đính một hoa bạc
1 áo tràng vạt bằng the nam mầu xanh lót lụa trắng
1 xiêm lụa mầu lam
Khăn, màng lưới (buộc tóc)
Hia tất.
5 năm đổi một lần.


1827 Giám sinh tọa giám được thăng bổ hay có lỗi phải cách thì mũ áo thanh khâm nhà nước phát phải chiếu lệ nộp trả, người ốm chết thì cho đem theo.


1828 Vua phán :"Mùa đông năm nay giá rét, bọn Giám sinh sách đèn cần khổ lấy gì chống rét ?", ban cho mỗi người 10 quan.


1829 Việc giảng tập thì trước giảng Ngũ kinh, Tứ Truyện, rồi Chính sử và Tính lý. Tập bài mỗi tháng chia làm bốn kỳ : ngày 3, 9, 17, 25.
Sau lại cho con các quan văn hưu trí hay đã quá cố từ tứ phẩm trở lên mỗi viên được một người dự.


1835 Ban cho quốc tử giám 50 bộ Tứ thư, Ngũ kinh, Tiểu học thông giám, Thi sách chế nghệ, Luật phú, Thi thiếp, Tiểu học thể chú để cấp phát cho Tôn snh, Ấm sinh, Sơ học sĩ nhân.
Lại sai khắc sách Tứ thư, Nhân vật bị khảo, Thi vạn tập yếu in 1000 bộ cấp thêm cho sĩ tử mượn về xem.


1836 Bộ Lễ tâu : Nhà Di Luân đặt bài vị tiên sư để làm chỗ cho học sinh bái vọng. Hàng năm khai giảng, nghỉ giảng đều làm lễ triều bái ở đó, Tiến sĩ tân khoa làm lễ Thích điện (24) cũng tại đó. văn miếu ở bên tả quốc tử giám, bái yết ở đó mới hợp nghi. Từ nay hễ học sinh vào nhà Giám, Giám thần mặc phẩm phục đem học sinh đến văn miếu làm lễ cáo yết xong lại về Giảng đường làm lễ tham yết. Khi các Tiến sĩ làm lễ Thích điện cũng xin cho làm ở sân miếu mới tỏ được trang trọng, kính cẩn. Còn chỗ bái vọng xin đừng đặt nữa. Vua y.


1837 Ấm sinh học quốc tử giám được một năm trở lên, kỳ khảo khóa làm đủ văn thể ba trường nếu gập kỳ thi Hương thì cho được thi, không câu nệ phải đủ hạn hai năm.
Tôn sinh ở Giám từ xấp xỉ 13, phải học thuộc lòng giảng tập, lấy chuyên cần hạn định ; 20 tuổi trở lên làm một bài Kinh, một bài Truyện và văn thể khoa trường, văn sách hỏi về việc đổi hoặc điều luật. Đến kỳ khảo khóa, bộ Lễ ủy người có khoa mục cùng sát hạch, người nào ở hạng kém thì người ấy và tư giáo phải tội như lệ cũng như Giám thần, Học chính và cha anh ngày thường không biết bảo thêm. Trong một năm và trong một hệ đuổi về Tôn tịch đến ba người thì Giám thần, Học chính, Tư giáo phải tội nặng hơn. Tư chất chậm, dốt, sức học không tiến, bẩm phủ rút về.
Tôn sinh như có việc, Tư giáo chuyển trình Giám thần, Học chính, gia hạn cho về thăm nhà, hết hạn không đến thì răn phạt mỗi ngày thêm một bậc, tội chỉ đến 50 roi, nếu vô cớ mà bỏ thiếu, Giám thần, Học chính và cha anh phải đem trừng trị, dung túng thì giao cho bộ nghiêm trị.


1854 Vua đến nhà Di Luân khảo xét và ban thưởng cho học trò.


1869 Định rõ chương trình quốc tử giám :
a- Tôn sinh chưa tập đủ thể văn, chưa phân biệt chấm câu, chấm ngắt, quan Học chính phải sớm chiều dậy bảo, hoặc đã tập đủ thể văn ba kỳ, sát hạch trúng hạng ưu,bình và đã thi Hương thì cho được cùng học với học sinh ở Giám chờ có tiến bộ, lại theo lệ cho làm Tôn sinh thượng hạng.
b- Ấm sinh học ở Giám đã đỗ Tú tài thì cho hội đồng khảo hạch không câu nệ niên hạn.
Hàng năm 2 tháng trọng sát hạch học sinh, khi chấm xong đem suốt cả sách học tập nửa năm trước xét kỹ học lực chăm hay lười, cân nhắc tính khấu trừ định hạng.
c- Giám sinh đã được xét bổ mà chưa có nơi khuyết, trừ người tình nguyện ở lại Giám thì cho học bổng, còn thì cho về quê chờ bổ.
Người mới vào Giám, tuổi 50 trở lên, chuẩn cho được chọn bổ giáo chức (25).



B- KHẢO HẠCH

Khảo hạch ở Giám có nhiều loại khác nhau, tùy trình độ mà đặt câu hỏi khó hay dễ nhưng cũng không ngoài Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử, Bách gia chư tử v.v...


a) Thi để được vào học ở quốc tử giám : các Học sinh / Cống sinh được tiến cử từ các phủ huyện hàng năm hay vài ba năm một lần, phải qua một kỳ thi do quan ở Giám sát hạch có đỗ mới được học. Kỳ thi này cũng để xét trình độ mỗi người mà cho vào học một trong ba xá sinh. Hạng ưu,bình dù không đỗ Hương thí cũng được vào học ở quốc tử giám, hạng liệt bị đuổi về.
b) Kiểm soát - Những người đang học ở quốc tử giám hàng năm vào bốn tháng trọng (tháng giữa mỗi mùa) phải thi để kiểm soát học lực có tiến bộ hay không. Kỳ thi này do bộ Lễ chủ trì, Giám thần và các quan Đô Giám viện khảo hạch. Sau mỗi kỳ thi đều có bản phúc trình lên vua.


1829 Bộ thần bàn : Phàm người nào được bổ Học sinh thì do quan Giám thần xét lại. Bậc nhất kiêm thông văn thể ba, bốn trường ; bậc nhì thông văn thể một, hai trường ; bậc ba chưa thông văn thể. Cấp cho bậc nhất mỗi tháng 2 quan tiền, 2 phương gạo. Cấp mũ áo.
Về đề mục thì bậc nhất theo đầu đề mà tập ; bậc nhì và bậc ba thì : Chế nghĩa 6 đề, tập 1 Kinh, 1 Truyện, thơ 1 bài, phú 6 vần, văn sách tập 1, 2 đoạn văn sử.
Bậc nhất hạn học 2 năm, bậc nhì hạn 3 năm, bậc ba hạn 4 năm. Nếu mãn hạn mà chưa học đủ văn thể 4 trường, chưa thi chưa trúng kỳ khảo sau 3 năm mà không được 1 ưu, 1 bình thì đều cách. Học lười, nết xấu, thiện tiện dời bỏ nhà trường thì đánh đòn. Rượu chè, cờ bạc, trai gái bị cách đuổi.
Vua y. Lại cho con quan tứ phẩm trở lên hưu trí hay đã chết cho một con làm học sinh.


c- Thi lấy học bổng - Những kỳ thi lấy học bổng do Giám quan và quan Học chính phụ trách.


- Tôn sinh -- Thi vào 4 tháng mạnh (tháng đầu mỗi mùa), được ưu hay ình thì tùy điểm mà cho học bổng, 3 lần bị liệt thì đuổi.
- Học bổng hàng tháng của Tôn sinh là 2 quan tiền, 2 vuông gạo, 3 cân dầu thắp đèn. Sau khi thi :
- hạng ưu được tăng một nửa học bổng
- hạng thứ bị giám một phần ba học bổng
- hạng liệt truất ba tháng, 2 liệt thì truất 6 tháng, 3 liệt thì đuổi.
- Ấm sinh - Thi vào 4 tháng trọng (tháng giữa mỗi mùa), chia ra ba hạng, học 2 năm hay 3, 4 năm Học xong thi cũng giống Giám sinh, được thi Hương, nếu không đủ khả năng làm văn thể trường thi thì bị đuổi.
Học bổng hàng tháng của mỗi hạng là :
Hạng nhất (Ấm sinh thượng hạng / Thượng xá sinh) : 2 quan tiền, 2 vuông gạo, 3 cân dầu
Hạng nhì (Trung xá sinh) được 1,5 quan tiền, 1,5 vuông gạo, 2,5 dầu
Hạng ba (Hạ xá sinh) được 1 quan tiền, 1 vuông gạo, 2 cân dầu.
4 lần "thứ" thì đuổi.
Năm thứ 4 được học bổng như Giám sinh, thưởng phạt theo số điểm như nhau.
- Học sinh - Như Ấm sinh. Những người được ưu, bình, chưa đỗ thi Hương, được giữ lại học ở quốc tử giám, điểm xấu thì đuổi.
Học bổng hàng tháng là 2 quan tiền, 1 vuông gạo, 3 cân dầu. Sau khi thi :
hạng ưu tăng lên 3 quan tiền, 2 vuông gạo, 5 cân dầu
hạng bình được 2 quan tiền, 1,5 vuông gạo, 4 cân dầu
hạng thứ được 1,5 quan tiền, 1 vuông gạo, 3 cân dầu ; 4 lần thứ thì đuổi.
- Cử nhân -- Thi vào tháng trọng mỗi mùa. Được ưu hạng thì tăng học bổng, 4 lần "thứ" thì đuổi.
Học bổng hàng tháng của Cử nhân là 3 quan tiền, 2 vuông gạo, 5 cân dầu. Sau khi thi :
hạng ưu được tăng 1 quan tiền
hạng bình giảm 1 cân dầu
hạng thứ giảm 1 quan tiền, 2 cân dầu, thứ bốn lần thì bị đuổi.
- Giám sinh - 1826 Lệ cấp học bổng cho Giám sinh tọa Giám :
hạng ưu mỗi tháng được 4 quan tiền tiền, 2 vuông gạo, 5 cân dầu
hạng bình mỗi tháng được 3 quan tiền, 2 vuông gạo, 4 cân dầu
hạng thứ mỗi tháng 2 quan tiền, 2 vuông gạo, 3 cân dầu (26).


d- Hạch thi Hương, thi Hội - Ba năm một lần sát hạch trước mỗi kỳ thi Hương, thi Hội để chọn người được phép đự thi. Sĩ nhân phải khai tên tuổi, quê quán... đệ trình lên bộ Lễ rồi qua một cuộc Đình khiêu (khiêu= chọn lựa) do quan trong triều chủ trì.
1830 Lệ khảo hạch thi Hội : Trước kia các Giám sinh do quan ở Giám sát hạch rồi cho thi. Nay danh sách do quan nhà Giám dâng lên, vua sai sát hạch lại : hạng ưu được cùng thi với các Cử nhân, hạng nhì ở lại nhà Giám học tập, hạng liệt bổ làm vị nhập lưu thư lại ở các bộ.
Lệ này sau bãi bỏ, vua cho là quan ở Giám hiểu rõ trình độ học sinh hơn là khảo quan chỉ thi có một ngày, hễ Giám thần chọn là được đi thi, nếu có gì thì cứ Giám thần mà trách.
1837 Ấm sinh học ở quốc tử giám một năm trở lên, kỳ khảo khóa làm đủ văn thể ba trường, nếu gập kỳ thi Hương thì cho được thi không câu nệ phải đủ hạn hai năm.



C- Bổ dụng

1509 Sắc chỉ : quốc tử giám sinh ba xá sinh, người nào 30 tuổi trở lên thì bản quan mới được bảo cử bổ dụng.


1674 Giám sinh đã làm việc ở Giám 15 năm gọi là "thâm niên", đi thi nhiều lần, số vào đã đến thập trường (10 kỳ), nếu được quan ở Giám bảo cử, ở kinh thì được làm các chức Trưởng sử, Bạn độc, Tư nghị, Giảng dụ, Giám bạ, Tự ban, Cáp môn, Đô sự... ; ở ngoài thì làm Huyện úy, Tri châu, Huấn đạo. Sau khi nhậm chức mãn hạn hai tao ở kinh thì thăng Viên ngoại, Tự thừa, Lục sự, Huyện úy, Học chính... ; ở ngoài làm Tá mục, Đô quan... Viên nào trúng tam trường thi Hội, ở kinh thăng Lang trung, Thiếu khanh, Giáo thụ... ; ở ngoài làm Hiến phó. Nhiệm kỳ mãn hạn thăng Tham nghị (27).


1824 Chọn 10 Giám sinh giỏi giao bộ Lễ sát hạch, bộ Lại nghị bổ : quê từ Quảng-bình vào Nam làm Hàn lâm viện Kiểm thảo hay Điển bạ sung làm Hành tẩu văn phòng, quê từ Nghệ-an ra Bắc bổ Tư vụ 6 bộ.


1825 Kỳ khảo khóa tháng trọng Xuân sai Tham tri bộ Lễ Nguyễn Đăng Tuân , Ký lục Vũ Huy Đạt sung Chủ khảo, bọn Thiêm sự Trương Minh giảng12 người làm Phân khảo, đến Di Luân đường họp các học sinh tọa Giám khảo hạch. 7 người đỗ hạng ưu bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo ; hạng bình ở lại học tập ; hạng thứ đình lương một tháng ; hạng liệt cùng những người cáo ốm trốn hạch 52 người đều bị cách.
Thự Tế tửu Trần Trọng Huyến và Thự Tư nghiệp Thân văn Quyền bị giáng chức : Giám sinh Lý Trần Trinh đến trước quan điển khảo tự trần rằng hạch 5 khóa y đều được ưu mà không được tuyển, những người được cử thì có người chỉ hạng bình, hạng thứ cùng là người mới bổ. Vua cho xét lại, giáng Huyến làm Chủ sự bộ Lễ, Qưyền làm Chủ sự bộ Lại.


* Ngoại hạng : 1841 Nguyễn Xuân Thưởng, ngoài 60 tuổi mà không dự hạng lấy đỗ (thi Hội). Vua xem danh sách, bảo Nội các :"Nhà nước dậy nuôi nhân tài muốn được kịp thời bổ dụng, sao nỡ để cho họ chìm mãi trong nhà Học, đọc sách đến bạc đầu ư ?". Truyền cho bộ Lại sát hạch, bổ làm Huấn đạo huyện Phú-xuyên.




Sai một phút ngàn thu ôm hận
Nghoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm.
Hình đại diện của thành viên
songhan
 
Bài viết: 436
Ngày tham gia: Thứ sáu 19 Tháng 5 2006 2:00 pm

Bài viết mớigửi bởi songhan » Thứ ba 13 Tháng 6 2006 6:10 pm

Nhân Tông Hoàng đế húy Càn Đức, con trưởng của Thánh tông, mẹ đẻ là thái hậu Linh Nhân (Ý Lan), sinh ngày 25 tháng giêng năm Bính ngọ (1066) lên ngôi lúc 7 tuổi, ở ngôi 56 năm (1072-1127).
Ông vua này là người có công xây dựng nên Quốc tử giám.
Thêm 1 tí cho vui cùng với funny và chuột mỗm dài \:D/ \:D/ \:D/ .
Sai một phút ngàn thu ôm hận
Nghoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm.
Hình đại diện của thành viên
songhan
 
Bài viết: 436
Ngày tham gia: Thứ sáu 19 Tháng 5 2006 2:00 pm

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ tư 14 Tháng 6 2006 8:04 am

1
chuotmomdai đã viết:Có người ở đất Băng Sơn(Thanh Hóa)
Giúp vua dẹp loạn được phong tước hầu
Dẹp Tam Vương,lập công đầu
Lê Phụng Hiểu chém bay đầu Võ Vương!


Tui nhớ rùi,hehe đúng chưa funny??Lê Phụng Hiểu chém bay đầu Võ Đức Vương trong cung,được vua phong chức đô thống,sau này dẹp loạn Chiêm Thành ko nhận tước mà chỉ nhận ruộng.Sự tích "Thác Đao Điền " từ đó mà ra!


Xuất sắc chuotmomdai =D> =D> =D> =D>


2
chuotmomdai đã viết:Càn Đức niên hiệu Lý Nhân Tông
Lên ngôi khuyến khích chuyện nhà nông
Có mẹ Ỷ Lan làm cố vấn
Lập nên Quốc Tử(Giám) luyện anh hùng!


Hè hè, bây giờ mới chính xác nhé. Chứ còn câu trả lời lần đầu Trần Cảnh là ông cho lịch sử chạy lùi gần 2 thế kỷ đấy. #-o

Vỗ tay chúc mừng chuột mõm dài lần nữa. =D> =D> =D> =D>


Còn vụ giải cứu chuột mõm ngắn nữa sao đồng đội mà thờ ơ vậy hè ??? \:D/ \:D/
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Liên quan đến sử Việt Nam

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ hai 19 Tháng 6 2006 12:03 pm

1. Vua Chiêm thành là người nước nào?
2. Việt nam có những cuộc đổi họ lớn mang tính lịch sử, nhưng có họ thì không bao giờ thay đổi.
Các bạn có biết đó là những họ gì không?
Sửa lần cuối bởi dungnd vào ngày Thứ hai 19 Tháng 6 2006 12:09 pm với 1 lần sửa.
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Bài viết mớigửi bởi phuha » Thứ tư 21 Tháng 6 2006 4:28 pm

1. Vua Chiêm Thành là người nước Chiêm Thành chứ còn nước nào.

2. Chờ tui hỏi xem họ Nguyễn của tui có bị thay đổi không nhé.
Cuộc sống là yêu thương....
Hình đại diện của thành viên
phuha
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1377
Ngày tham gia: Thứ hai 08 Tháng 5 2006 10:42 pm

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ tư 21 Tháng 6 2006 6:47 pm

Phú Hà giải sai bét
\:D/ \:D/ \:D/
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ năm 22 Tháng 6 2006 2:25 am

1. Lê Phụng Hiển - Người làng Băng Sơn, thuộc Ái Châu, có sức khỏe; Lý Thái Tổ nghe tiếng vời ra làm tướng, thăng đến Vũ Vệ tướng quân: đến đây vì có công dẹp loạn, được phong Đô thống thượng tướng quân, tước hầu. Làng Băng Sơn bây giờ là xã Dương Sơn thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đông Chinh vương Lực cùng Dực Thánh vương và Vũ Đức vương làm loạn. Bọn nội thị Viên ngoại lang là Lý Nhân Nghĩa và Vũ vệ tướng quân là Lê Phụng Hiểu đánh dẹp được yên: Vũ Đức vương phải chịu giết chết.

Đời Lý, Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, Lê Phụng Hiểu làm tiên phong, phá tan được quân giặc, tiếng vang cả phiên quốc. Khi khải hoàn, nhà vua xét thưởng cho người có công đánh giặc. Phụng Hiểu nói: "Không muốn thưởng quan tước, chỉ xin đứng trên núi Băng Sơn ném thanh kiếm đeo trong mình, rồi xét xem hễ thanh kiếm ấy rơi xuống địa phận nào, thì xin cho địa phận ấy để làm biệt nghiệp". Lý Thái Tông nhận lời. Phụng Hiểu lên núi, ném một cái, thanh kiếm đi được hơn mười dặm, rơi xuống địa phận làng Đa My. Lý Thái Tông liền đem đất làng Đa My ban cho Phụng Hiểu, tha thuế thóc ruộng thác đao. Vì thế, nên ở Ái Châu, ruộng thưởng công có tên là "thác đao".

2. Trạng nguyên Nguyễn Hiền
Thường gọi là Trạng Hiền, sinh năm 1235 tại làng Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực. Từ thủa nhỏ đã sớm tiếp xúc với chữ nghĩa và sách vở. Khi mới lên bốn tuổi đã là người có học thức xuất sắc, năng khiếu kỳ lạ. Trí thức gần xa đến thử tài đều bái phục và suy tôn là thần đồng xuất chúng.
Đỗ Trạng Nguyên năm 13 tuổi, khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên Ứng Chính bình thứ 16 (1247) đời vua Trần Thái Tông, cùng khoa với Bảng nhãn Lê Văn Hưu và Thám hoa Đặng Ma La. Ông là vị Trạng nguyên ít tuổi nhất của nước ta từ trước tới nay. Làm quan đến Thượng thư bộ Công


3. Mạc Đĩnh Chi-Lưỡng Quốc Trạng Nguyên
Mạc Đĩnh Chi (1272-1346), tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Một trong những bài thơ nổi tiếng "Sen trong giếng ngọc"

* Lưỡng quốc trạng nguyên- Nguyễn Đăng Đạo - người làng Hoài Bão thuộc huyện Tiên Du( nay là Liên Bão, huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc NInh). Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo - thường gọi là Trạng Bịu. Ông sinh năm 1651 và mất năm 1719.

* Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528, quê ở làng Phùng Xá, tên Nôm là Kẻ Bùng, huyện Thạch Thất, Sơn Tây. Ông có tên hiệu là Hoằng Phu, Nghị Mai, Mai Nham Tử. Phùng Khắc Khoan đậu tiến sĩ năm 1580, đời Lê Thế Tông (1573-1600) khi ấy ông đã 53 tuổi và đã là một công thần có nhiều thành tích với nhà Lê trong cuộc chống Mạc.
Trong khi đi sứ, vua Tàu phục tài văn thơ của ông trong một lúc làm luôn 36 bài thơ mừng, phong ông làm Lưỡng quốc Trạng Nguyên.

4. Lý Nhân Tông (1072 - 1127)
Vua Nhân Tông tức thái tử Càn Đức lên ngôi lúc 7 tuổi. Quan thái sư là Lý Đạo Thành làm phụ chính, nhưng bên trong mẹ là _ Lan Thái phi và Dương Thái hậu buông mành nghe việc triều chính.
Năm Ất Mão 1075 hiệu Thái Ninh thứ tư, bắt đầu có các kỳ thi tam trường tức là thi ba bậc khác nhau để tuyển nhân tài ra giúp nước, (những người thông nghĩa sách minh kinh). Đây là kỳ thi đầu tiên ở nước ta, chọn được 10 người. Lê Văn Thịnh đỗ đầu được vào hầu vua học; sau này Lê Văn Thịnh làm đến Thái sư, rồi bị đầy lên Thao Giang (Phú Thọ) vị bị ngờ có ý phản nghịch. Khoa cử nước ta có từ thuở đó.
Năm Bính-thìn (1076) lập Quốc-tử-giám để bổ những người văn-học vào dạy. Đến năm bính-dần (1086) mở khoa thi chọn người văn-học vào Hàn-lâm-viện, có Mạc hiển Tích đỗ đầu, được bổ Hàn-lâm-học-sĩ.

5. Ông Nguyễn Thiếp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La sơn phu tử.
Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đã mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi ngài đã đăng cực, lại mấy lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về.

6. Vua Duy Tân
Tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh San, con thứ năm của Vua Thành Thái và bà Tài nhân Nguyễn Thị Định
Sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý (19 - 9 - 1900)
Ngày 28 - 7 Năm Đinh Mùi (5 - 9 - 1907) lúc 8 tuổi lấy niên hiệu là Duy Tân
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ sáu 23 Tháng 6 2006 11:07 am

Có 2 câu mà không ai biết để giải hả? \:D/ \:D/ \:D/
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Bài viết mớigửi bởi phuha » Thứ sáu 23 Tháng 6 2006 11:16 am

Chờ đó. Sao nôn nóng vậy!
Cuộc sống là yêu thương....
Hình đại diện của thành viên
phuha
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1377
Ngày tham gia: Thứ hai 08 Tháng 5 2006 10:42 pm

Bài viết mớigửi bởi NgocUyen » Thứ hai 26 Tháng 6 2006 1:50 pm

dungnd đã viết:Có 2 câu mà không ai biết để giải hả? \:D/ \:D/ \:D/


"Giải nhanh cho :cheers: còn lên rừng chứ"
Hình đại diện của thành viên
NgocUyen
 
Bài viết: 207
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 8:55 am

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ hai 26 Tháng 6 2006 1:54 pm

Nghe nói dưới này toàn mấy anh chị thông thái mà. 2 câu đó sưu tầm ở trên núi đó.
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ hai 26 Tháng 6 2006 3:04 pm

Câu 1: Vua Chiêm Thành là người nước nào câu hỏi mơ hồ quá. đề nghị nói rõ hơn vì Chiêm Thành có nhiều đời Vua. Việc tranh luận từ Chúa Chiêm Thành và Vua Chiêm Thành chưa thấy có tài liệu lịch sử chính thống nào nói đến cả

Câu 2: Những cuộc đổi họ trong lịch sử Việt Nam

- Họ Lý đổi thành họ Nguyễn:

Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm 1224. Sau đó Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông và lập ra nhà Trần

Để củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ơ? các vùng núi xa xôi miền biên viễn. Năm 1232, nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ hai 26 Tháng 6 2006 3:29 pm

Câu 2: Những cuộc đổi họ trong lịch sử Việt Nam (tt)

- Họ Mạc đổi thành họ Nguyễn và các họ khác:

Mạc Đăng Dung lấn ép vua Lê và cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527), lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị vì 1527-1530) lập ra nhà Mạc.
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, trung hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhaụ . Ví dụ con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa

- Họ Trần đổi thành họ Trình:

Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) sau khi cầm quyền được hai tháng đã hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậụ Bà nầy tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ "Trần" đều phải đổi chép thành chữ "Trình."
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ hai 26 Tháng 6 2006 4:03 pm

Họ không thay đổi là họ Nguyễn Phúc... mà đầu tiên là con trai Nguyễn hoàng: Nguyễn Phúc Nguyên
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 10:04 am

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ ba 27 Tháng 6 2006 9:16 am

Hoan hô funny, câu 2 đúng rồi. =D> =D>
Câu 1 : đời vua Lê Đại Hành ở cuối thế kỷ 10.
Cố lên funny
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 12:40 pm
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Trang kế tiếp

Quay về Đố vui

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.

cron