Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Những câu chuyện, những bài thơ, những cảm nhận văn học...
(Quân ta lãng mạn tí hè...)

Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ hai 13 Tháng 8 2007 9:11 am

Hoàng Cầm đã có bài thơ Bên kia sông Đuống được bình chọn là một trong 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ. Riêng funny tôi, nếu được chọn tôi sẽ chọn bài Lá Diêu Bông. Đơn giản vì tôi thích nó nhất chứ quân Toàn Lì thì chẳng thể đủ năng lực để phân tích đánh giá được.

Ai cũng biết “Lá diêu bông” chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của nhà thơ huê tình xứ Kinh Bắc. Nhưng trong tâm thức mọi người, dường như đều tin có cái “Lá diêu bông” thật, gắn với mối tình thơ dại của cậu bé Hoàng Cầm 12 tuổi. Và xung quanh cái “Lá diêu bông” ấy đã có nhiều câu chuyện thú vị về thi sĩ Hoàng Cầm.

Tìm được một bài viết thật hay xin chia sẻ cùng bà con...


Hình ảnh

Câu chuyện của 71 năm về trước...

Đó là vào dịp lễ Giáng sinh năm 1934, cậu học trò Hoàng Cầm được nghỉ về thăm nhà ở cái phố ga xép đìu hiu Như Thiết. Ở đấy có một cô gái bán hàng nước 20 tuổi đã hút hồn cậu học trò 12 tuổi trong mấy năm trời: chị Vinh. Hoàng Cầm về cũng là để được trông ngóng, ngó nhìn, chờ đợi chị. Chiều mùa đông nắng hanh vàng rộm, trời xanh trong, heo may se se lạnh. Vắng khách, chị bỏ cửa hàng bước nhanh ra cánh đồng, đi trên các bờ ruộng, lúi húi vạch từng lùm cây, bụi cỏ hoang dại như để tìm một vật gì đó. Cậu học trò đi theo, cách sau lưng chị ba bước. Thấy chị cứ tìm mãi, cậu mới bạo dạn hỏi:

- Chị Vinh ơi ! Chị đi tìm cái gì thế?

Chị cười, một nụ cười trêu cợt rất bí ẩn kiêu sa, rồi nói:

- Ừ, chị đi tìm cái lá... ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá ấy ta gọi là chồng!

Tim cậu học trò như lặng đi ngừng lại vài giây rồi đập rất mạnh, người nóng ran lên trong buổi xế chiều càng lạnh, vì hy vọng là mình sẽ... tìm được cái lá ấy cho chị. Cái lá ấy, chị đã gọi tên, một cái lá có lẽ có thật, nhưng chỉ ít lâu sau buổi chiều mùa đông ấy, cậu học trò đã không sao còn nhớ, để rồi 25 năm sau, tức một phần tư thế kỷ, nó biến thành cái “Lá diêu bông” trong bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Hoàng Cầm.

Và bài thơ ra đời 25 năm sau...

Một chiều thứ bảy, cậu học trò 12 tuổi si tình xuống tàu, vào phố xép đi về nhà, nhìn sang nhà chị Vinh thấy cánh liếp đóng im ỉm. Chị Vinh đã đi lấy chồng. Bà mẹ chị Vinh đã đồng ý gả chị cho một viên quản khố xanh ở Phủ Lý để cuộc sống đỡ khó khăn:

Năm sau giặc giã

Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ

Thả tịnh vàng cưới Chị

võng mây trôi

Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.


(Cây tam cúc)

Cậu học trò khóc oà lên, khóc như vừa có một thế giới nào đột ngột vỡ tung trong vũ trụ. Mối tình thơ dại tuổi học trò rướm máu ấy làm sao có thể quên được trong một hồn thơ đa tình đa cảm? Nó vẫn âm ỉ cháy không nguôi trong lòng thi sĩ suốt 25 năm qua...

Cho đến cái mùa rét năm 1959 thì kỷ niệm của mối tình thơ dại đầu đời bỗng ùa về trong lòng thi nhân và trào ra thành những con chữ trong cái giai điệu “Lá diêu bông” như không thể nào cưỡng nổi. Và đây cũng là một hiện tượng “lạ” trong thơ Hoàng Cầm cũng như trong thơ hiện đại Việt Nam. Trong Vĩ thanh (Về Kinh Bắc), chính Hoàng Cầm đã kể lại rất cụ thể trường hợp ra đời của bài thơ “Lá diêu bông”: “Đặc biệt, riêng, riêng có bài Lá diêu bông, duy nhất một bài này hoàn toàn là những lời văng vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét 1959... tôi vẫn không ngủ được. Bốn bề yên tĩnh... Chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về:

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng...

“Tôi xoay người trong chăn về phía bên trái và ghi ngay lên giấy. Giọng nữ vẫn đọc, không vội vàng và cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im bặt hẳn, lòng tôi nhẹ bẫng đi, được một lát thì tôi ngủ thiếp. Sớm hôm sau nhìn lại trang “bản thảo” thì có chỗ rõ, đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ này xoá mất chữ khác. Phải mất nửa giờ, tôi mới tách được ra theo thứ tự đúng như những lời người nữ kỳ diệu nào đó đã đọc cho tôi viết lúc quá nửa đêm hôm qua. Bài Lá diêu bông ra đời như vậy, nói có người không tin, nhưng tôi nghĩ bây giờ khoa tâm thần học, vô thức luận, tâm linh học có thể lý giải được hiện tượng đó một cách rất khoa học. Vậy nên, cái lá diêu bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc diêu bông, tôi chép diêu bông, thế thôi. Nhưng nó có nguồn gốc đấy”.

Nguồn gốc của “Lá diêu bông” thì ta đã biết, như ở câu chuyện trên đây, trong cái buổi chiều mùa đông năm 1934 ấy... Còn hiện tượng thơ “lạ” của Hoàng Cầm trong cái đêm mùa rét năm 1959 thì giới nghiên cứu gọi đó là thơ siêu thực với lối viết tự động (écriture automatique) như có “lời thần linh mách bảo”. Lời mách bảo của thần linh ở đây thực ra là tiếng nói dội lên từ tiềm thức thi nhân để thành một kiệt tác của giai điệu tình yêu. Có thể xem Lá diêu bông là bài thơ siêu thực tiêu biểu nhất mà cũng đẹp nhất của Hoàng Cầm trên cả hai mặt tiềm thức - giấc mơ và lối viết tự động. Đó là thơ siêu thực kiểu phương Đông bay lên từ một vùng quê quan họ thơ mộng trữ tình, mang cái nét riêng của Hoàng Cầm: thơ siêu thực - hiện đại - dân gian:

... Ngày cưới Chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn



Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu bông hời!...

- Ới diêu bông!...


Có phải vì thế mà nó đã “lọt tai” độc giả Việt Nam và được nhiều thế hệ người đọc nước ta tìm đến và đón nhận? Nguyễn Đăng Mạnh gọi đó là “phạm trù siêu thơ”, Nguyễn Đăng Điệp thấy ông là “người dệt thơ từ những giấc mơ...”, còn Đỗ Lai Thuý thì lại cho rằng “có thể Hoàng Cầm không có lý luận, không có tuyên ngôn như nhóm siêu thực của André Breton, nhưng trên thực tế ông đã sáng tác như họ”. Chỉ có điều, ông đã Việt hoá thơ siêu thực châu Âu, đúng hơn là đã Kinh Bắc hoá đến mức tạo ra một bông hoa thơ thật nhuần nhị và đẹp hư ảo như chiếc Lá diêu bông từ khi ra đời đến nay vẫn lâng lâng, mơ hồ, say đắm, mê hương trong lòng người đọc...

Đến cuộc thi bình thơ cuối thế kỷ...

Bốn mươi năm sau. Bài thơ đã có thời gian đi vào cuộc sống. Lớp trẻ đã đón nhận Lá diêu bông như đón nhận một tiếng thơ của lòng mình. Nhiều cuộc trao đổi, toạ đàm về Lá diêu bông đã được tổ chức trong học sinh, sinh viên. Thi sĩ Hoàng Cầm đã đến nói chuyện về thơ của mình với sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và bình hai thi phẩm Lá diêu bông và Cây tam cúc. Và một hạnh phúc, một phần thưởng lớn đã đến với ông: Hội Tao Đàn báo Hoa học trò đã tổ chức một cuộc thi bình bài thơ Lá diêu bông kéo dài mấy tháng trong năm 1999 - năm cuối cùng của thế kỷ. Bài dự thi khá nhiều với nhiều tiếng nói bình thơ khác nhau nhằm khám phá cái “Lá diêu bông” bí ẩn, say người và đầy ám ảnh kia. Phải khó khăn, vất vả lắm Ban giám khảo mới chọn được không đầy 10 bài để đưa vào chung khảo. Các bài này đều được đưa nhà thơ Hoàng Cầm “chấm” để tham khảo ý kiến. Bài được giải cao nhất trong cuộc thi bình thơ đã được chính tác giả bài thơ cho 9 điểm. Đó là bài của Đỗ Khánh Phương , sinh viên lớp 3B, Khoa ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội I, nhan đề: Tình yêu tuyệt vọng và hy vọng của đời người với lời kết thúc: “Chông chênh giữa hai bờ thực và ảo, giữa có lý và phi lý, giữa đòi hỏi và hy sinh, tâm trạng của nhà thơ cũng là tâm trạng của tình yêu, nhất là khi nỗi đam mê cháy lên từ những điều không có thực. Vì thế mà có một ảo kỳ Lá diêu bông. Vì thế mà tình yêu vẫn mãi là ảo kỳ, là đáng được thương, đáng được không vô tình với nó. Và, người ta lại cháy lên hy vọng làm một điều gì đó để tình yêu không đi cùng với nỗi bất hạnh trên đời”.

Và “Lá diêu bông” đi vào cuộc sống...

Nhạc sĩ Trần Tiến đã phổ nhạc bài thơ Lá diêu bông thành một bài hát được rất nhiều người yêu thích, tạo một nhịp cầu âm nhạc cho lời thơ Lá diêu bông của Hoàng Cầm đi vào lòng công chúng. Nhưng có những điều không mấy người biết về tác giả Lá diêu bông: Nhờ có bài thơ này mà Hoàng Cầm cùng với nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán đã được ông giám đốc Khách sạn Hoa Lư - Ninh Bình cho ăn ở không mất một xu (chỉ vì mê bài Lá diêu bông) và cả người gác cầu Đò Lèn - Thanh Hoá ưu tiên cho đi trước (cũng chỉ vì ái mộ ông “Lá diêu bông”) khi họ vào Thanh Hoá để gặp hai nhà văn Hoà Vang và Nguyễn Lương Ngọc trong chuyến đi bộ xuyên Việt. Và đặc biệt, bài thơ đã thành tên một cái quán - Quán “Diêu Bông” trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1980 - (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, Q.3, TPHCM). Chủ quán là một nhà giáo - nhà thơ nghỉ hưu sớm, đã nhờ một người quen (trung tá Quýnh) chuyển cho tác giả Lá diêu bông một bức thư bằng thơ như sau:

Quán em nghèo em gọi Diêu Bông

Cũng là như có như không vậy mà...

Hoàng Cầm ơi, anh ở xa

Em nhờ anh Quýnh bắc qua nhịp cầu

Gặp anh bày tỏ trước sau

Diêu bông hư thực biết đâu mà tìm

Thương người đáy biển mò kim

Đời giông bão thương cánh chim cuối trời...


(Theo Tạp chí Kiến thức ngày nay số 569)


---

Lá Diêu Bông

Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Ðồng chiều
Cuống ra.
Chị bảo
— Ðứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày sau Em tìm thấy lá
Chị chau mày:
— Ðâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vãn bên sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
Từ thưở ấy
Em cầm chiếc lá
Ði đầu non, cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu Bông hờị.!
Ới Diêu Bông

( 1959)
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 3:04 am

Theo dòng thời sự của "Lá diêu bông"

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ hai 13 Tháng 8 2007 10:07 am

Funny ơi! Nếu như mối tình thơ dại của cậu bé Hoàng Cầm 12 tuổi không thành, thì yên tâm nhé! Đoàn Chuẩn lại có một cuộc tình nhiều trắc trở nhưng cũng đầy thi vị. Mặc dù vậy, đây chính là những "chất xúc tác" để giúp họ trở nên "được lưu danh thiên cổ". Không tin, Funny mần thử coi biết liền hà!!!
.
GUI NGUOI EM GAI
Nhac: Doan Chuan- Tu Linh
.
Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Đượm đà phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng
Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi, liễu rũ mà chi
Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh, hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa
Đường phố vắng bóng đèn, chạnh lòng tôi nhớ tới người em
Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương, đôi mắt em nói nhiều
tha thiết như dáng kiều, ôi tình yêu
Nhưng một sớm mùa thu giữa chân trời xanh ngát, nàng đi gót hài xanh
Nàng đi cho dạ sao đành, đừng quên lối cũ ân tình nghĩa xưa
Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng
Chuyện tình vỡ lỡ bến cô đơn không ai ngờ
Tình nghèo xa cách mãi em tôi đành ôm, mối sầu mà đi
Em tôi đi màu son lên đôi môi
Khăn soan bay lả lơi trên hai vai
Nhìn xác pháo bên thềm gởi lòng tôi nhớ tới người em
.
Trong 10 tình khúc nổi tiếng của Đoàn Chuẩn, thì có 9 tình khúc mùa thu. Duy nhất chỉ có Gửi người em gái là tình khúc mùa xuân. Gửi người em gái được viết vào mùa xuân Bính Thân (1956) và có lẽ đó là tình khúc cuối cùng mà Đoàn Chuẩn dành tặng cho một mối tình mê đắm nhất.
Tình khúc viết xong đã được tài tử Ngọc Bảo thu thanh rồi phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh thống nhất. Sau khi xuất hiện, do đã được một số nhà phê bình "chăm sóc" khá chu đáo, nên tình khúc này chìm vào im lặng mấy chục năm ở miền Bắc. Tại sao lại viết rằng: Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ? Thế là lạc quan tếu. Tư tưởng ấy thật không ổn cho cuộc đấu tranh của chúng ta đang rất khó khăn, cam go... Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng qua tình khúc này, Đoàn Chuẩn muốn gửi tới người tình đã biệt xa vào Nam, bởi vậy, nó mới có cái tên ban đầu nguyên vẹn là Gửi người em gái miền Nam. Khi Khánh Ly hát tình khúc này ở Sài Gòn thì mới đặt lại là Gửi người em gái với những ca từ không phải của Đoàn Chuẩn.
.
Thực ra Gửi người em gái là tình khúc Đoàn Chuẩn mượn cái cớ thật của thời cuộc để gửi gắm tình ý khôn nguôi tới người mến thương mà mình đành dằn lòng chia biệt. Đấy là điều bí ẩn trong tình khúc mùa xuân duy nhất này. Vậy nàng là ai?
.
Sau một vài cuộc tình từ đó nảy sinh những Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Cánh hoa duyên kiếp..., Đoàn Chuẩn nghĩ đã nguôi ngoai trong lòng, đã kín miệng những vết thương yêu. Nhưng nghiệp đời chưa cho chàng bằng an. Vết thương lại nhói buốt lúc trở trời. Hình ảnh người thiếu nữ đăng quang "vương miện thủ khoa" của cuộc thi hát do đài Pháp-Á tổ chức lại làm lung lay chỗ chàng định ngồi thiền ở tuổi gần tam tuần. Có một cái gì thật mơn mởn, thật tơ non như bàn tay thần diệu vuốt qua con tim định già cỗi của chàng, khiến nó đập nhịp bồi hồi trở lại.
.
Hoá ra, nàng là con gái đầu lòng của một công chức hoả xa. Kháng chiến, cha nàng là tự vệ chiến đấu nội thành. Khi rút ra chợ Đại, cha nàng mang theo nàng khi ấy mới 12 tuổi. ở chợ Đại ít lâu, nàng phải về lại Hà Nội với mẹ để cùng mẹ chăm sóc 5 em nhỏ. Cô bé mới tuổi dậy thì đã tảo tần làm thuê, đánh máy chữ, đan áo len để có tiền góp với mẹ nuôi các em.
.
Nàng đẹp kiêu sa và có giọng hát mê hồn. Nàng tình cờ được một nhạc công của Đài Pháp-Á phát hiện và đưa ngay lên ngôi thủ khoa khiến Đoàn Chuẩn lập tức ngất ngư.
.
Từ buổi nàng đăng quang, chàng đã tìm gặp được nàng và nàng đã hát rất hay những Lá thư, Đường về Việt Bắc, Chuyển bến... Chàng còn giúp nàng học nhạc, giúp nàng những show hát ở rạp chiếu bóng Hà Nội trước lúc chiếu phim với thù lao đặc biệt. Có show, chàng để riêng mình nàng hát. Giọng hát của nàng đầy hứa hẹn. Biết bao thanh niên Hà Nội mê đắm nàng, sẵn sàng mua hai vé để theo nàng từ rạp này sang rạp khác chỉ để nghe nàng hát. Nàng còn quá hồn nhiên nên mặc dù rất yêu chàng nhưng vẫn có lúc làm cho chàng buồn.
.
Nghe tin cha mất ở vùng tự do, nàng đã khóc sưng mắt. Rồi người chú ruột là bộ đội đã cử liên lạc vào thành đón nàng ra vùng tự do vào cuối mùa xuân 1954. Đoàn Chuẩn bất ngờ chống chếnh. Chàng cảm thấy mất mát thực sự. Chàng cô đơn đến xót xa. Chàng tin là đã mất nàng.
.
Nhưng nàng không bỏ chàng. Nàng trở về khi thủ đô giải phóng. Họ gặp lại nhau gấp gáp, hối hả, như tìm lại một cái gì đó mà cả hai cùng đánh mất. Để rồi lại chấp chới đón những bi kịch đời sống sắp sửa ập xuống đè nát sự lãng mạn. Chỉ nghe phong phanh nàng có người dạm hỏi là chàng đã phát điên lên. Chàng hoàn toàn bất lực. Chàng chẳng có gì ngoài con tim yêu nàng đến muốn vỡ vụn.
.
Những ngày tháng ấy, Đoàn Chuẩn dường như không phải sáng tác gì cả. Những giai điệu cứ trải theo diễn biến từng ngày của chàng với nàng: Tà áo xanh, Lá đổ muôn chiều, Vàng phai mấy lá, Chiếc lá cuối cùng... trong tập Bài hát bị xé. Tình khúc Đoàn Chuẩn lúc này như không để hát lên mà là để khóc nức cho sự thương tổn. Tình sử đã khép lại, nhưng những dấu yêu thì đâu đã tàn phai. Và sự ra đi của "tà áo xanh" ấy đã buộc Đoàn Chuẩn phải da diết viết lên những cung bậc chót cùng trong mùa xuân cô đơn:
.
Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng, Rừng đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng, Hà Nội chờ đón Tết hoa chen người đi liễu rủ mà chi, Đem tân xuân Hồ Gươm như say mê, Ngàn phía đến lễ đền chạnh lòng tôi nhớ đến người em...

Nàng thật lộng lẫy trong giai điệu Đoàn Chuẩn:

Tôi có người em gái tuổi chớm dâng hương mắt nồng rộn ý yêu thương, Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như dáng Kiều ôi tình yêu...

Bài hát viết theo khúc thức ba đoạn A - B - A mà Cung Tiến và sau này là Trịnh Công Sơn thường sử dụng viết tình khúc. Trước Gửi người em gái, Văn Cao đã viết Suối mơ với khúc thức ấy. Cái lạ là Đoàn Chuẩn viết nhạc mang hơi hướng phương Tây song ở đoạn B của Gửi người em gái lại có câu thơ lục bát rất dân tộc:

Người đi trong dạ sao đành, Đường quen lối cũ ân tình nghĩa xưa

Nàng còn được đặt ở một góc nhìn tình tứ hơn:

Em tôi đi mầu son lên đôi môi, Khăn san bay lả lơi trên vai ai, Trời thắm gió trăng hiền, Hà Nội thêm dáng những nàng tiên

Phải nói rằng Gửi người em gái miền Nam đã ẩn chứa trong ấy đầy đủ bóng dáng của người tình bí ẩn được vẽ lên trong nỗi nhớ thương đến ngẩn ngơ.
Theo: Báo Thanh Niên
LỜI BÀI HÁT
GỬI NGƯỜI EM GÁI

Nhạc và lời: Đoàn Chuẩn - Từ Linh

Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Nụ đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
Hà Nội chào đón Tết - hoa chen người đi, liễu rủ mà chi
Đêm tân xuân, hồ Gươm như say mê
Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi
Ngàn phía đến lễ đền, chạnh lòng tôi nhớ đến người em

Tôi có người em gái tuổi chớm dâng hương mắt nồng rộn ý yêu đương
Đôi mắt em nói nhiều, tha thướt như giáng kiều, ôi tình yêu
Nhưng một sớm mùa thu, khép giữa trời tím ngát, nàng đi gót hài xanh
Người đi trong dạ sao đành, đường xưa lối cũ ân tình nghĩa xưa

Rồi từ ngày ấy sống xa anh nơi Kim Tiền
Ngục trần gian hãm tấm thân xinh đôi mắt hiền
Đời nghèo không lối thoát em tôi đành thôi - cúi đầu mà đi
Xuân năm nay đường đêm Ca-ti-na
Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa
Dần trắng xoá mặt đường, một người em gái nhớ người thương


Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ
Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng
Nụ cười trong gió sớm, anh đến chờ em, giữa cầu Hiền Lương
Em tôi đi màu son lên đôi môi
Khăn san bay lả lơi trên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền, Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên

Em, Tháp Rùa yêu dấu, còn đó chơ vơ, lớp người đổi mới khác xưa
Thu đã qua những chiều, song ý thu rất nhiều, ca tình yêu
Em nhẹ bước mà đi, giữa khung trời bát ngát, tình ta hết dở dang
Đường xưa lối ngập lá vàng, đường nay thong thả bao nàng đón xuân

Lòng anh như giấy trắng thanh tân ép hoa tàn
Thời gian vẫn giữ nét thanh tân nơi hoa vàng
Dìu lòng đàn dẫn phím yêu thương trào dâng viết gửi về em
Đêm hôm nao ngồi nghe qua không gian
Em tôi mơ miền xưa qua hương lan
Đường phố loá ánh đèn, một người trên đất Bắc chờ em.
:-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|=
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Bài viết mớigửi bởi J. Valjean » Thứ hai 13 Tháng 8 2007 4:06 pm

Hê hê, lãng mạn ghê! Mà "Lá diêu bông" sao lại không có thật nhỉ. Nó vẫn luôn hiện diện trong lòng những người đang yêu đấy thôi ( dĩ nhiên là yêu theo kiểu "cổ điển", như ... tui hồi xưa đó ), ngày xưa tui cũng đã từng đi hái cả nắm lá diêu bông rồi, thiếu điều muốn ... nhổ cả cây lên luôn ( nói nhỏ nghe chó rượt chạy ná thở luôn đó ), rồi đem về "Gởi (mấy) người em gái", thế mà em nào cũng từ chối cả, chán ghê. Diêu bông hởi diêu bông, "mày" có hiện diện trên cõi đời này không
Sửa lần cuối bởi J. Valjean vào ngày Thứ bảy 15 Tháng 5 2010 3:22 am với 2 lần sửa.
Ta là lãng tử đường xa
Trời cao đất rộng là nhà thênh thang
Hình đại diện của thành viên
J. Valjean
 
Bài viết: 173
Ngày tham gia: Chủ nhật 05 Tháng 8 2007 4:07 am

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi phuha » Thứ sáu 07 Tháng 5 2010 1:23 am

Nhà thơ Hoàng Cầm đã về cõi vĩnh hằng hôm qua 6/5/2010, hưởng thọ 89 tuổi.

Hình ảnh

Vĩnh biệt ông, vĩnh biệt nhà thơ tài hoa của Bên kia sông đuống, của Lá Diêu Bông... đã trở thành thành tài sản của những người yêu thơ.

Diêu bông hời...
Ơi diêu bông !
...
Cuộc sống là yêu thương....
Hình đại diện của thành viên
phuha
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1385
Ngày tham gia: Thứ hai 08 Tháng 5 2006 3:42 pm

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi hongdaoicd » Thứ sáu 07 Tháng 5 2010 4:20 am

Nhà thơ Hoàng Cầm qua đời
9h30 sáng ngày (6/5), thi sĩ "Lá diêu bông" đã nhẹ bước vào cõi hư không, để lại một di sản tinh thần độc đáo, tài hoa, in dấu ấn riêng biệt vào lịch sử văn chương Việt Nam.
Hoàng Cầm sinh năm 1922. Ở tuổi xấp xỉ 90, vì một cú ngã dẫn đến bại chân, nhiều năm qua, ông hoàng thơ tình Việt Nam chỉ còn quanh quẩn nằm ngồi trong căn phòng nhỏ trên con phố Lý Quốc Sư (Hà Nội). Tối 2/5, bệnh trở nặng, ông được đưa vào Bệnh viện Hữu Nghị cấp cứu. Hơn 3 ngày sau, tác giả Bên kia sông Đuống qua đời, hưởng thọ 89 tuổi.

ahoang-cam-2.jpg


Nhà thơ Hoàng Cầm. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết, hôm 3/5, ông cùng Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh và một số bạn văn nữa vào viện thăm Hoàng Cầm. "Lúc này, nhà thơ không nói được nữa, tuy ánh mắt vẫn còn tỏ vẻ nhận ra mọi người. Tay ông dường như đã lạnh".

"Tôi đã lường trước được chuyến đi cuối cùng của Hoàng Cầm. Nhưng khi nghe tin ông mất, tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác bàng hoàng, đau xót. Đối với tôi, Hoàng Cầm là một nhà thơ lớn với những tác phẩm mang đậm dấu ấn truyền thống, nhưng lại có đóng góp rất quan trọng trong công cuộc cách tân thơ ca Việt Nam. Thơ ông ảnh hưởng đến nhiều thế hệ thi sĩ Việt Nam", Nguyễn Trọng Tạo chia sẻ.

Hiện tại, thi hài nhà thơ đang được quàn tại phòng lạnh Bệnh viện 108. Nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: "Hội và gia đình nhà thơ đang bàn bạc về ngày giờ và địa điểm tổ chức tang lễ cho Hoàng Cầm. Tang lễ của ông sẽ được tổ chức với nghi thức cao nhất của Hội Nhà văn. Ông không chỉ là tác giả đoạt giải thưởng Nhà nước mà còn là một tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam hiện đại".

hoang-cam-1.jpg


Nhà thơ Hoàng Cầm và nhà văn Kim Lân năm 2003. Cả hai giờ đều đã là "người của muôn năm cũ". Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Hoàng Cầm, tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ra tại làng Lạc Thổ, nay là xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, trong một gia đình nhà Nho nghèo sống bằng nghề làm thuốc Đông y. Ông làm thơ từ năm lên tám, chín tuổi, bắt đầu được in từ những năm 1936 - 1937. Bút danh Hoàng Cầm xuất phát từ tên của một vị thuốc quý.

Những năm kháng chiến, Hoàng Cầm gia nhập quân đội, chuyên hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Năm 1957, ông là một trong số những hội viên tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó, ông tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm và thôi công tác tại Hội Nhà văn.

Hoàng Cầm được biết đến trong nhiều lĩnh vực, nhưng nổi tiếng nhất là thơ ca. Những tác phẩm chính trong sự nghiệp sáng tác của ông gồm: Trương Chi (xuất bản năm 1993), Bên kia sông Đuống (thơ, 1948), Kinh Bắc (thơ, 1959), Men đá vàng (truyện thơ, 1973), Mưa Thuận Thành (thơ, 1959), Lá Diêu Bông (thơ, 1993), Đến từ hư không (thơ, 2000)...

Năm 2007, Hoàng Cầm được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật.

Lá Diêu Bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá
Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!


Bên kia sông Đuống (trích)


Em ơi!
Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông luyến tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thêm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
....

Hoàng Cầm

Hà Linh (báo vnexpress)
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
hongdaoicd
Mod
Mod
 
Bài viết: 541
Ngày tham gia: Thứ bảy 20 Tháng 5 2006 5:36 am
Đến từ: HÒA CƯỜNG NAM - HẢI CHÂU - ĐÀ NẴNG

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi J. Valjean » Thứ bảy 15 Tháng 5 2010 3:26 am

BÀI THƠ "CÂY TAM CÚC" - HOÀNG CẦM

Trẻ em bây giờ với gánh nặng học hành bài vở, phút rỗi rãi hiếm hoi thường lao vào những trò chơi hiện đại, làm sao có được niềm hạnh phúc đơn sơ, ấm áp từ những trò chơi ở làng quê xưa: chơi khăng, đánh đáo, đánh quay, chơi ô ăn quan… trong mảnh sân tràn ngập tiếng cười.

Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em.

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.

Đứa được
Chinh chuyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em.

Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.


Bài thơ của Hoàng Cầm thật giàu chi tiết, hình ảnh gợi hình, gợi cảm, thâu tóm hoàn hảo một trò chơi trí tuệ đơn giản mà vui, có chút chinh xèng gây men: chơi tam cúc, làm sống dậy hoài niệm đẹp về tuổi ấu thơ của lớp người trung niên chúng ta. Cỗ bài cong mép vì đã cũ, hành vi dấm dúi trốn cha giấu mẹ, rút trộm rơm nhà làm chiếu, người chơi, cách chơi, được phởn phơ, thua đáo gỡ… chân thực, đáng yêu đến lạ lùng. Chỉ bằng ấy chi tiết đã đủ tạo nên chất thơ, thứ thơ được gẩy ra từ rơm rạ của cuộc sống thanh bình dung dị nơi thôn dã.

Những câu thơ 7 chữ, 8 chữ ngắt dòng dài ngắn khác nhau, khi nén đúc, khi trải rộng, co duỗi nhịp nhàng mô phỏng nhịp điệu cất bài lên, hạ bài xuống rộn ràng, náo nức, bí hiểm bất ngờ, gợi tả tài tình không khí của cuộc chơi và tâm trạng người trong cuộc.

Cũng như trong một số bài thơ khác của Hoàng Cầm, ở đây ta lại gặp nhân vật trữ tình xưng “Em” trong quan hệ thân tình gần gũi với “Chị”. Một thứ quan hệ tình cảm khá đặc biệt, không chỉ là tình chị em đơn thuần, đâu hiếm gặp trong đời. Người em ấy không hoàn toàn còn là trẻ con nữa, nên đã biết tranh thủ: “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm”, chớp được cái khoảnh khắc thăng hoa của sắc đẹp môi hồng má đỏ bởi vị nồng cay của miếng trầu nơi chị. Để mà ngây ngất giấu thầm ước vọng mơ hồ nhưng khắc khoải:

Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em

Xe hồng, đôi cây bài tam cúc, đã trở thành biểu tượng cho ước vọng lứa đôi hạnh phúc, cứ mỗi lúc lại dội lên trong lòng “Em”.

Ở cái tuổi chập chờn lằn ranh trẻ con – người lớn, cậu bé – chàng trai, trong tình cảm của “Em” có nét ích kỷ thật đáng yêu qua niềm mong mỏi âm thầm tưởng như phi lý mà có lý: “Em đừng lớn nữa Chị đừng đi”. Ô hay! “Chị đừng đi” là niềm mong mỏi phải lẽ rồi. Nhưng sao lại mong “Em đừng lớn nữa”? Phải chăng trong trí não của “Em” luôn có “Chị”.

Người “Em” thì đa tình, đa cảm, giàu mộng mơ, trong khi “Chị” thì vô tư hồn nhiên, không để ý mọi hành vi và diễn biến tâm trạng của “Em”. Vì vậy, đến kết bài thơ là cảnh chị cũng lại hồn nhiên lên xe hoa, để lại trong “Em” nỗi thất vọng tiếc nuối đến ngẩn ngơ. Nỗi đau riêng hòa trong nỗi đau chung: “Năm sau giặc giã/ Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ/ Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi/ Em đứng nhìn theo Em gọi đôi”. Một thuở thanh bình đã chấm dứt.

Lấy cây tam cúc và cuộc chơi bài tam cúc làm ẩn dụ, nhà thơ gửi gắm khát vọng yêu đương kín đáo và nỗi đau mất mát của một tình yêu đơn phương, không tới bến bờ hạnh phúc, gợi lên trong ta niềm trắc ẩn trước những éo le, uẩn khúc của lòng người.

Gấp trang thơ lại, lòng ta còn vương vấn mãi làn hương mái tóc người con gái đương thì, mùi rơm thơm ngái của đồng quê và nhất là hương vị của một tình yêu vô vọng vừa chớm nở…

http://vanhocvietnam.co.cc/category/bin ... hoang-cam/
Ta là lãng tử đường xa
Trời cao đất rộng là nhà thênh thang
Hình đại diện của thành viên
J. Valjean
 
Bài viết: 173
Ngày tham gia: Chủ nhật 05 Tháng 8 2007 4:07 am

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi J. Valjean » Thứ bảy 15 Tháng 5 2010 4:13 am

“Trong thơ Hoàng Cầm từng dội lên một tình cảm “Chị - Em” ngây thơ và đẹp như trò chơi con trẻ. Cái thời ấu thơ thường chơi bài tam cúc với chị. Chị tuổi đương thì, Em vẫn nhóc con. Nhưng Em thì mê mùi rơm mùi Chị: Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì. Một tình cảm lạ lùng đã khuấy động tâm hồn trẻ nít. Em Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm. Và chỉ mong thời gian mãi dừng lại trong trò chơi con trẻ, để Chị - Em mãi bên nhau: Em đừng lớn nữa Chị đừng đi. Câu thơ 60 năm sau vẫn còn nghe hương thơm hơi thở. Một câu thơ giản dị như chính nó. Như chính thời gian và không gian cùng ngưng đọng để toả ngát vào lòng bao thế hệ hậu sinh. Nhưng cuộc sống luôn vận động. Chị lấy chồng. Và Em đứng nhìn theo. Ba từ Em gọi đôi thật bất ngờ như tài thơ đột xuất Hoàng Cầm ... Chính vì vậy, Cây Tam cúc đứng trong những bài thơ đặc sắc nhất của Hoàng Cầm”

(Nguyễn Trọng Tạo)
Ta là lãng tử đường xa
Trời cao đất rộng là nhà thênh thang
Hình đại diện của thành viên
J. Valjean
 
Bài viết: 173
Ngày tham gia: Chủ nhật 05 Tháng 8 2007 4:07 am

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi Sera_Ppy » Chủ nhật 16 Tháng 5 2010 9:49 am

...."Nhớ tự ngày xưa , tuổi chín mười
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi... "

Đúng là ...J.Valjean ơi hỡi lão ...Valjean

=D> =D> =D> =D> =D> =D> =D>
More than I thought I would ever be T.o. a.b
Hình đại diện của thành viên
Sera_Ppy
 
Bài viết: 75
Ngày tham gia: Thứ năm 12 Tháng 6 2008 12:25 am

Re: Xung quanh chiếc "Lá Diêu Bông"

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ sáu 17 Tháng 9 2010 3:17 am

Lão J.Valjean đã trích “Trong thơ Hoàng Cầm từng dội lên một tình cảm “Chị - Em” ngây thơ và đẹp như trò chơi con trẻ. Cái thời ấu thơ thường chơi bài tam cúc với chị. Chị tuổi đương thì, Em vẫn nhóc con. Nhưng Em thì mê mùi rơm mùi Chị: Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì. Một tình cảm lạ lùng đã khuấy động tâm hồn trẻ nít. Em Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm. Và chỉ mong thời gian mãi dừng lại trong trò chơi con trẻ, để Chị - Em mãi bên nhau: Em đừng lớn nữa Chị đừng đi.


Đẩy bài ni lên cả nhà cùng đọc nghen... :sunny:
....
Những nụ hoa rơi trên cánh đồng nứt nẻ
.
Hồi lên mười hai tuổi - cái tuổi bắt đầu cựa mình để trở thành một trai bản, tôi mê một người con gái. Đó là chị Lảnh, con nhà bác Tốc, người cùng bản Pác Tháy của tôi. Chị ấy hơn tôi ba tuổi vì thế tôi phải gọi là "Slao". Lúc nào cũng phải gọi: "Slao Lảnh" chị ấy mới chịu thưa. Chị ấy đẹp lắm!

Này nhé: má tròn, môi mọng, mắt đen, chân tay to khỏe, cái hông, cái eo đẫy đà rắn chắc… Đặc biệt là đôi má đỏ hây hây của chị. Tôi đã mê cái má hồng cùng nụ cười tươi rói kia lúc nào không biết.
Mê thế, thích thế nhưng tôi không dám tỏ tình, hay đục vách nhà chị vào mỗi đêm. Tôi chỉ nhìn chị từ xa, hoặc trêu chọc vu vơ. Còn chị, luôn coi tôi như đứa em trai, lúc nào cũng cấu má tôi nói những điều âu yếm. Tôi tức lắm nhưng không biết phải làm gì.

Lâu lắm rồi! Vào một buổi sương sớm của tháng mười xa xưa ấy. Cánh đồng trước bản Pác Tháy vẫn ngái ngủ, dòng sông cũng đang cuộn mình trong sương sớm, cái bến nước còn vắng bóng người thì chị Lảnh xuất hiện. Chị vẫn đi cõng nước như thế từ lúc còn bé. Những năm trước, sớm nào tôi cũng ra bờ sông nhấc lưới, và tôi vẫn thấy chị Lảnh: đen nhẻm, gầy guộc, run rẩy trước cái ống bương nước quá nặng.
Nhưng vào buổi sớm hôm ấy, tôi bỗng thấy chị rực rỡ với bộ quần áo màu chàm. Chị cúi người xuống, để lộ bờ vai trắng muốt, đôi chân to khỏe trắng ngần của chị in lên mặt nước. Thế rồi chị vốc nước vào ống bương, đeo lên vai mình. Khi chị ngước lên cũng là lúc gương mặt tròn trịa ấy gặp những tia nắng đầu tiên của buổi bình minh núi rừng. Cả khuôn mặt chị sáng ngời, vài giọt nước đậu trên má chị lung linh như những hạt ngọc. Bàn tay trắng muốt của chị quệt ngang qua má rồi nhoẻn cười làm nghiêng ngả cả khúc sông. Tôi đứng như trời trồng vì lần đầu tiên thấy chị đẹp thế.

Tôi thấy chị như một nàng tiên hiện ra trong sương sớm. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn. Tôi ngẩn ngơ nghĩ ngợi. Tôi ngẩn ngơ tưởng tượng… và tôi cũng biết mình bắt đầu trở thành trai bản vì đã thích nhìn con gái. Từ lần ấy tôi mê chị. Lúc nào tôi cũng nghĩ đến chị và lảm nhảm trong những giấc mơ. Mé tôi là người biết được điều đó, bà bảo: "Nếu con thích cái Lảnh thật, mé sang hỏi bác Tốc lấy nó làm vợ cho con ...". Nhưng tôi đã giãy nảy từ chối vì sĩ diện và cả sự xấu hổ nữa. Tôi rất thích mé sang hỏi chị ấy làm vợ tôi, nhưng cũng rất ngại ngần khi người khác biết được ý nghĩ của mình. Hồi ấy, dù tôi đã cựa mình để trở thành trai bản, nhưng cũng chỉ là một cậu bé mơ mộng mà thôi. Tôi đã im lặng, đỏ mặt, nói vùng vằng không đồng ý, cũng chẳng chối từ. Mé nhìn tôi cười cười rồi không nói gì nữa.

Cũng từ lần ấy tâm tính tôi thay đổi, lầm lỳ ít nói, hay lang thang một mình vào đêm khuya. Tôi thích lang thang một mình trên cánh đồng trước bản, hay đứng ngẩn ngơ ở cái bến nước mù sương kia.
Bây giờ nhớ lại, tôi thấy mình thật may mắn vì được sống những giây phút lãng mạn nhất cuộc đời. Tôi đã lang thang ngoài đồng, nói lảm nhảm một mình những lời yêu thương với chị Lảnh. Tôi đã đứng ngẩn ngơ ở bến nước và tưởng tượng chị Lảnh với bàn tay to khỏe trắng muốt quệt ngang khuôn mặt tròn trịa sáng ngời… Và tôi đã hét lên như một gã trẻ con điên dại rằng: Tôi yêu chị! Muốn lấy chị làm vợ!

Và từ đó, sáng nào tôi cũng dậy thật sớm, đến cái bến nước đầy sương khói kia để nhìn thấy chị đi cõng nước. Mỗi lần thấy tôi, chị lại nhoẻn cười, véo vào mặt tôi trêu chọc: Sao em dậy sớm thế? Tôi ức lắm! Không biết nói gì, cái đầu cứ ong ong như muốn vỡ. Đôi lúc nước mắt tự ứa ra đau khổ một cách tưởng tượng. Tôi muốn gào lên, hét lên rằng, tôi thích nhìn chị vào mỗi bình minh ở cái bến nước này! Tôi muốn ngắm khuôn mặt tròn trịa sáng ngời kia! Tôi muốn gào lên rằng, sẽ bảo mé sang nhà hỏi chị làm vợ tôi… Nhưng tôi không nói nổi, chỉ ấm ức, bất lực, hờn tủi, tự ti… đúng kiểu một đứa trẻ mới lớn.

Còn chị, có lẽ cũng biết được những điều tôi muốn nói - tôi nghĩ thế. Chị cứ nhìn tôi cười trìu mến, đôi môi mọng chín tủm tỉm, cái má tròn trịa ửng hồng, cái hông rắn chắc vội vàng đi, đôi bàn tay trắng muốt thì véo vào mặt tôi chế giễu. Tôi điên mất!

Đến một đêm, bản Pác Thay của tôi có đám cưới. Tôi thấy chị Lảnh cười nói, hát hò với đám thanh niên, rồi đôi mắt chị lúng liếng nhìn anh Quang - bộ đội biên phòng đóng quân gần đó. Tôi đi lại, gầm ghè, bực tức… ngực như muốn vỡ tung vì ghen tị. Và đêm hôm đó - cái đêm trăng sáng vằng vặc của tháng mười no đủ, tôi đã thấy chị Lảnh, sánh vai cùng anh Quang bộ đội đi xuống cánh đồng trước bản.

Họ đi sát bên nhau, cười nói vu vơ. Bóng họ in dài trên những thửa ruộng mới gặt còn thơm mùi lúa chín. Tôi đã mò mẫm đi theo như kẻ thất tình, tôi không biết đi theo họ làm gì, nhưng tôi cần phải đi. Tôi sợ anh Quang bộ đội có giọng nói miền xuôi sẽ cướp mất chị Lảnh của tôi.

Họ vẫn đi. Họ ngả đầu vào nhau, tì vai vào nhau, cầm lấy tay nhau, vịn chân vào nhau… họ cười, họ nói và hình như đó là những lời yêu đương. Tôi cố dỏng tai nghe ngóng, lồng ngực thở như tiếng tù và thợ săn. Anh Quang và chị Lảnh đến bên một đống rơm thì dừng lại. Hai người từ từ sát lại nhau, rồi họ thì thầm gì đó, rồi họ chỉ còn là một… Tôi rũ xuống, liêu xiêu ra về.

Và từ lần đó, tôi chính thức trở thành kẻ thất tình non dại. Tôi bỏ ăn, bỏ làm, bỏ nhà đi lang thang ngoài đồng như kẻ điên. Cả nhà tôi sợ hãi. Mé tôi lo lắm, bà biết con trai mình đang thất tình nên dỗ dành bằng cách sẽ đi hỏi chị Lảnh về làm dâu nhà tôi. Nhưng tôi vẫn vùng vằng, vẫn hờn dỗi hơn cả một đứa trẻ.
Cũng từ lần đó, tôi không dậy sớm đến cái bến nước sương khói kia để ngắm nhìn chị nữa. Tôi ghét cách chị tủm tỉm cười với tôi, ghét cách véo vào má tôi trêu chọc. Và tôi lại càng ghét khi nghĩ đến hình ảnh chị và cái anh Quang bộ đội kia thì thầm bên đống rơm mới gặt của tháng mười no đủ.

Cho đến một buổi chiều, khi tôi đang rong đàn trâu về chuồng thì gặp chị Lảnh đi lấy củi dưới chân núi. Chị nhìn tôi, vẫn cái điệu tủm tỉm cười và hỏi: "… sao dạo này không thấy em dậy sớm nhấc lưới ở bến sông?". Tôi cười ngượng cúi đầu nói lí nhí: "Không thích!". Chị lại thò bàn tay to khỏe, trắng muốt véo vào má tôi trêu chọc: "Lười thế…". Tôi muốn hét lên thật to, muốn cào cấu tấm thân đẫy đà của chị, muốn chị biết rằng tôi đã yêu và đang đau đớn vì chị. Nhưng tôi chỉ đứng như hòn đá, cúi đầu lí nhí không nên lời. Chị Lảnh bỏ vào tay tôi hai quả đào rừng chín mọng, rồi vội vã gánh củi về nhà. Tôi đã không ăn hai quả đào chín mọng thơm lừng ấy mà hờn dỗi ném đi.

Đến tháng mười năm sau - một đêm tháng mười lộng lẫy đầy ánh trăng - đám cưới chị Lảnh với anh Quang bộ đội được tổ chức. Một đám cưới linh đình vui vẻ vì có bộ đội biên phòng góp vui. Họ hát hò, uống rượu, trò chuyện suốt đêm. Tôi cũng có mặt ở đó và khi ấy tôi đã lớn vổng trở thành một trai bản thực thụ.

Đêm ấy, chị Lảnh thật đẹp với bộ quần áo chàm cô dâu, đôi mắt chị mở to sâu thẳm, đôi má chị hồng hào mãn nguyện, và bàn tay trắng muốt to khỏe của chị lại véo vào má tôi trêu ghẹo. Lần ấy tôi đã uống rượu - tôi uống nhiều lắm - uống hơn cả một trai bản thực thụ. Và tôi say, tôi lảm nhảm những điều vô nghĩa. Rồi tôi lại lang thang ngoài đồng như kẻ mộng du, tôi đến bên bến nước đầy sương khói, hát nghêu ngao những câu chữ thất tình.

Tôi không nhớ mình đã đau khổ thế nào. Chỉ đến khi tôi được gọi đi học ở trường dân tộc nội trú ngoài tỉnh, rồi đi học ở Hà Nội và trở thành một anh phóng viên quèn nhưng hình ảnh của chị Lảnh thỉnh thoảng vẫn hiện về trong những giấc mơ của tôi.

Cho đến vài hôm vừa rồi, tôi cùng vài người bạn đi ngang qua một cái chợ quê thuộc huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ). Tôi bỗng thấy một thiếu phụ gầy gò, đen đúa, đội cái nón trắng ngồi bán bánh chưng. Tôi giật mình khi đôi mắt của người thiếu phụ ấy nhìn tôi, mời mua bánh. Vâng! Đôi mắt ấy: đen láy, sâu thẳm, đầy ắp nước… Đôi mắt của chị Lảnh ngày nào ở bến nước sương khói kia. Tôi không thể nhầm lẫn được. Tôi đã đến thật gần chị, mua một cái bánh để nhìn thật kỹ đôi mắt kia. Và cuối cùng để thực chứng, tôi đã nói một câu tiếng Tày: "Ăn pẻng nảy kỷ lai sèn?" (Cái bánh này bao nhiêu tiền?). Người thiếu phụ ấy giật mình, đánh rơi cái bánh, ấp úng nhìn tôi và hỏi vồn vã: sao chú biết nói tiếng Tày?
Tôi cũng lúng túng không kém. Đúng là chị Lảnh ngày nào - người chị đã làm tôi mê đắm một thời. Nhưng trước mặt tôi bây giờ là một người phụ nữ khác, trông chị như bất cứ một thiếu phụ quê mùa đi chợ phiên. Chị đã không nhận ra tôi và tôi cũng suýt nữa không nhận ra chị nếu không nói vài câu tiếng Tày thân yêu của cái bản xa tít núi rừng kia.

Chiều hôm đó, chị đã mời tôi về nhà - căn nhà nhỏ, trong một xóm yên bình của đồng bằng Bắc Bộ. Anh Quang đã ra quân, già nua như bất cứ người nông dân nào. Chị Lảnh xúc động cười nói vì gặp được người đồng hương. Trong suốt bữa cơm, tôi cố hình dung lại khuôn mặt tròn trịa sáng người của chị, nhưng không thể. Tất cả đã hết, nó chỉ đọng lại trong vỏ não của một kẻ hay tưởng tượng như tôi. Tất cả đã đi qua như một giấc mơ và chỉ riêng tôi cố níu kéo bằng những hoài niệm. Còn chị Lảnh bây giờ - chị không nhớ gì về những buổi bình minh rực rỡ của thời con gái. Chị cũng không còn nhớ tôi đã yêu chị đến mức nào. Chị đã già nua, đen đúa vì thời gian và công việc đồng áng, chị chỉ hỏi tôi những câu xã giao về quê hương, làng bản và chị chỉ giục tôi uống rượu cùng anh Quang - chồng chị.

Tôi cố nhìn sâu vào mắt chị để tìm lại những câu chuyện xa xưa, má tôi nóng bừng như còn nguyên cái véo âu yếm của chị, bàn tay tôi vẫn nguyên cảm giác cầm hai quả đào rừng chín mọng… nhưng chị - chị không nhớ gì và cũng chẳng cần nhớ gì. Chị vẫn là chị của tôi - một người chị cùng bản Pác Thay yêu dấu!

Tôi ra về, lòng không vui cũng chẳng buồn. Tôi rất muốn nán lại nhà của chị, rất muốn nhìn sâu vào mắt chị để gợi nhớ những giây phút đẹp đẽ ngày xưa. Nhưng tất cả đã không còn. Chị quên hết và chị chẳng cần nhớ. Phải, nhớ để làm gì? Nhớ rằng ngày xưa mình rất đẹp ư? Nhớ rằng ngày ấy có một gã trai bản mới lớn mê đắm mình ư? Nhớ để làm gì nhỉ?! Vẻ đẹp của chị có lẽ chỉ riêng tôi mê mẩn và tồn tại trong bộ óc gàn dở của mình. Còn cuộc sống này cứ đi qua - đi qua - đi qua - đi qua như vốn nó đã vậy. Nhớ để làm gì. Vô ích lắm!

Tôi đến chân đê. Mùa này vùng đồng bằng hanh khô và rũ rượi. Tất cả chỉ còn màu trắng xám, đám cỏ cũng rũ mình héo hon, chỉ riêng một bụi hoa cát đằng mọc bướng bỉnh xanh mướt, chúng nhú ra những nụ hoa màu tím đẹp lung linh. Tôi giơ máy ảnh, ngắm nghía rồi chụp. Bất giác vài đứa trẻ đi qua, chúng reo lên: hoa đẹp quá! Thế rồi chúng thò tay vặt hết. Những nụ hoa tím đẹp lung linh ấy đi theo chúng - nằm trên bàn tay búp măng vô tư của chúng. Rồi chúng lại reo lên: Ra sông bắt cá thôi… Chúng rầm rập chạy đi, những nụ hoa cát đằng bị bỏ lại, rơi lả tả trên nền ruộng mùa đông nứt nẻ.

Và bây giờ bụi hoa cát đằng bướng bỉnh, xanh mướt ấy không còn một nụ hoa. Chúng vẫn đứng rì rào, bướng bỉnh như chẳng có chuyện gì xảy ra. Có lẽ chúng đang chuẩn bị để cho ra những nụ hoa mới. Tôi thu máy ảnh, tự lẩm bẩm trong đầu: không chụp nữa!

ASáng

http://antgct.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=54284
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am


Quay về Văn, Thơ ...

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.

cron