Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Những câu chuyện, những bài thơ, những cảm nhận văn học...
(Quân ta lãng mạn tí hè...)

Mừng sinh nhật 28-02

Bài viết mớigửi bởi songhan » Thứ năm 28 Tháng 2 2008 4:03 am

:-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|=

Chúc mừng những người thân thương có ngày sinh nhật hôm nay !
Vui vẻ, mạnh khoẻ, thành đạt và hạnh phúc ! =D> =D> =D>
...
và Mừng sinh nhật Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Mừng em sinh nhật thứ bao nhiêu
Bao nhiêu sinh nhật cũng không nhiều
Này anh em chị hãy vui theo
Bao nhiêu sinh nhật cũng chia đều.

:-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|= :-({|=
Sai một phút ngàn thu ôm hận
Nghoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm.
Hình đại diện của thành viên
songhan
 
Bài viết: 436
Ngày tham gia: Thứ sáu 19 Tháng 5 2006 7:00 am

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ hai 31 Tháng 3 2008 5:00 am

Trong thuyết Tứ Diệu Đế (The Four Noble Truths) của nhà Phật thì Khổ Đế (Chân lý nói về nổi khổ của cuộc đời) có 8 Khổ (Bát khổ). Cái Khổ của Sinh, Lão, Bệnh, Tử, của Thụ Biệt Ly Khổ (Thương nhau mà không sống gần nhau cũng khổ), của Oán Tăng Hội Khổ (Ghét nhau mà cứ phải gặp nhau hòai cũng khổ), của Sở Cầu Bất Đắc Khổ (Muốn nhiều mà không được bao nhiêu cũng… Khổ) và của Thủ Ngũ Uẩn Khổ.
Cả tuần nay nhà ta có cả vui, buồn lẫn lộn (Vui của đám cưới nhà bác Dợm báo hiệu của chữ Sinh, rồi tiếp theo là cái buồn đại tang chữ Tử của ông cụ nhà của bác Hùng, bác Hà, em QuynhHoa và rồi thì cả ông nhà cụ Nghị nữa) nên không khí thật trầm lắng. Cún cũng không muốn phá vỡ cái không khí trầm buồn này bằng những trò “nghịch ngợm” của mình.
Sinh, Lão, Bệnh, Tử cũng là quy luật của tạo hóa mà không ai tránh khỏi. Vấn đề là mỗi một chúng ta biết mình phải làm những gì để …được gọi là sống chứ không phải là tồn tại.
Cả nhà cũng biết Cún cũng là một trong các fan hâm mộ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và hôm nay là ngày giỗ của ông. Vì vậy, Cún muốn mượn lời mà người bạn rất thân của của nhạc sĩ Trịnh Công sơn - nhà thơ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Người Ham Chơi theo cách mà bạn ông vẫn gọi) đã nói về nhạc Trịnh. Mời cả nhà đọc nhé!


Nếu nói “ảnh hưởng” của một đại gia cổ điển nào đó với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có lẽ dễ thuyết phục hơn là ảnh hưởng của Phật giáo.
Không phải là người ham mê nghiên cứu đạo Phật điều đó là hiển nhiên, nhưng Trịnh Công Sơn đã lớn lên trong một thành phố đầy những ngôi chùa cổ, trong tiếng chuông thu mỗi buổi chiều hôm. Ảnh hưởng của Phật giáo đến với nhạc của Trịnh là điều không thể tránh được. Như ta đã biết, thế giới của Trịnh Công Sơn là một vòng khép kín, giống như một lâu đài bằng đá cổ xưa, tĩnh mịch tinh không, trong đó bằng một sự nhạy cảm của một người người nhạc sĩ, ông thu nhận hết biến cố của một kiếp người và lơ đãng ngồi ký tên vào từng viên đá, Gần như quán xuyến tất cả, âm nhạc của Trịnh Công Sơn diễn ra trong cung La Thứ, chuyển tải hết biến cố của một kiếp người.

Kinh sách nhà Phật có hàng ngàn, hàng vạn cuốn. Tất cả đều rút gọn trong bốn chữ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Nhạc của Trịnh Công Sơn cũng đề cập những vẫn đề ấy dù không ý thức.

Sinh là cú khởi đầu vào kiếp luân hồi. Sinh tự nó không phải là điều đáng buồn, nhưng vì Sinh mới đầu cho một quá trình gọi là Tứ Diệu Đế (Sinh, Lão, Bệnh, Tử) nên cũng không phải là điều đáng ước muốn. Kinh thánh truyền đạt lại ý nghĩa của ngày lễ Noel, ngày sinh ra chúa nên gọi lại tin mừng. Trịnh Công Sơn thì gọi là Phúc âm buồn. “Nghe xót xa hằn lên tuổi trời
Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi
Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”
(Gọi Tên Bốn Mùa)
Người đi quanh thân thế của người
Một trăm năm như tiếng thở dài
Ngày vinh quang hay tháng ngậm ngùi
Ngày âu lo theo tóc mọc dài
Làm con sông cho tháng ngày trôi
Chờ cây non trên núi đầu thai
Trong từng giọng nói có màu tàn phai
” (Như Tiếng Thở Dài)
Đọc Trịnh Công Sơn, ta lấy làm ngạc nhiên khi bắt gặp cái buồn bã của ông về cuộc đời. Buồn bã vì trong cuộc đời còn có sẵn một biến cố đáng buồn, là sự ra đời của con người.. Cũng lưu ý rằng thời điểm của chữ Sinh rất ngắn, tuồng như con người chưa có ý thức về sự ra đời của mình. Nhà tâm lý học hiện đại người Pháp Merleau Bonty có nói rằng “người ta không thể sinh ra trước một phút để biết mình ra đời như thế nào?” Vì thế âm nhạc của Trịnh Công Sơn cũng rất ít khi nói trực tiếp vào sự ra đời, mà chỉ nói qua hình ảnh câu hát ru và một cách nào đó làm dịu đi ý nghĩ gay gắt của sự ra đời: “Tiếng khóc ban đầu còn đâu, còn đâu, còn đâu” (Lời mẹ ru)

Thế nhưng trịnh Công Sơn cũng nhanh chóng rời bỏ vấn đề này để sang địa hạt của chữ Lão..
Ôm lòng đêm
Nhìn vầng trăng mới về
Nhớ chân giang hồ
Ôi phù du
Từng tuổi xuân đã già

Thôi về đi
Đường trần đâu có gì
Tóc xanh mấy mùa… ”
(Phôi pha),

“Em đi qua chuyến đò
Ối a con sông còn trẻ
Con sông đâu có ngờ
ngày kia trăng sẽ già”
(Biết đâu nguồn cội)

“Bao nhiêu năm làm khiếp con người
Chợt một chiều tóc trăng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày..
Cụm rừng nào lá xác xơ cây
Từ vực sâu nghe lời mời đã dậy
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay”
(Cát Bụi)

Lão hóa là một quá trình bất lực trước thân thể, trước vật chất và trước tinh thần. Thế giới đổi khác, và tôi cũng suy nghĩ khác, ấy là vì tôi đã già. Trịnh Công Sơn đã nói đến chữ Lão bằng tất cả giọng buồn nản:
“Có một ngày, có một ngày như thế, anh đi
Anh đi đâu, về đâu
Về cõi chiêm bao
Lìa những cơn đau
Hồn tiếc bao la mang theo..
Bạc đầu tôi đi, có một ngày
Bạc đầu tôi đi, tôi đi”
(Có một ngày như thế)

Nếu như Lão là một sự bất lực trước cuộc sống, thì Bệnh là một tình trạng suy thoái và mất chất lượng của cuộc sống, do sự bất lực tạo nên. Thân thể tiềm ẩn sẵn những mầm mống của bệnh, có thể coi con người là một bệnh tiền thể: Và vì mang sẵn mầm bệnh như Trịnh Công Sơn nên tự xem mình một “mặc cảm lâm bệnh”.
“Người đâu mất người
Đời tôi ngốc dại
Tự làm khô héo tôi đây
Chiều hôm thức dậy
Ngồi ôm tóc dài
Chập chờn lau trắng trong tay”
(Chiếc lá Thu Phai)
Không quên rằng sự hạn chế của sức khỏe bản thân, những đêm thức khuya mất ngủ đã gieo vào lòng ông cái mặc cảm nói trên. Nhưng mặt khác, do một quan niệm có tính chất khổ hạnh, Trịnh Công Sơn đã xem “lâm bệnh” chính là bản chất của cuộc đời.

Đáng buồn nhất là cái chết (Tử). Triết học phương Tây cho rằng, cái chết không thuộc về đời người. Nó thuộc về vũ trụ, nó giống như bức tường trắng, trắng nhờ, phẳng lỳ vô nghĩa (J.P Sartre. Le Muer). Với phương Đông, cái chết thuộc về đời người. Nó găm vào hữu thể, làm rỗng những hữu thể. Nó giống như con sâu đục khoét trái cây làm rỗng dần trái cây. Vì mang sẵn mặc cảm lâm bệnh nên ông nghĩ con người ta có thể sẽ đi ra khỏi thế giới này lúc nào cũng được:
“Đường nào dìu tôi đi đến cơn say
Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời
Dù thật lệ rơi lòng không buồn mấy
Giật mình tỉnh ra ồ nắng lên rồi”
(Bên đời hiu quạnh)
Hoặc như:
“Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tin đồn đập lời hoang phế
Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê
Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa
(Cỏ Xót Xa Đưa)

“Mười năm khi phố qua vùng đồi
Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
Có một dòng sông đã qua đời”
(Có một dòng sông đã qua đời)
Cái chết là tất yếu, là bất khả kháng đối với con người. Có chăng là giờ điểm của chuông chiêu hồn. Hình ảnh này được lặp lại muôn nghìn lần, đã khiến cho âm nhạc của Trịnh Công Sơn gồm những lời tiên đoán xui xẻo và một màu nâu xám buồn bã mê hoặc.

Trịnh Công Sơn đã xây dựng trong âm nhạc của ông toàn bộ thế giới với bốn nguyên tố nguyên thủy của nhà Phật là Sinh, Lão, Bệnh, Tử đều có tính hư vô. Thế nhưng ông cũng đã tìm cách hóa giải chúng bằng cách sử dụng báu vật của tâm hồn, nửa ảo nửa thật rất lạ:
“ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?

Chính đó là chữ TÂM. Cái TÂM thì không tìm kiếm gì cho mình, cái tâm chỉ giống như chiếc chiếu trải ra cho thiên hạ ngồi lên. Kinh Phật nói rằng lòng tốt ở đời giúp được cho con người, như đôi hài cỏ chỉ giúp người qua được đoạn đường. Nghĩ cho cùng thì nhiều bài hát của ông như “ Ở Trọ”, “Đóa Hoa Vô Thường”, “Một cõi đi về” đều viết về đề tài có mang âm hưởng triết lý nhà Phật.

Chuyện nhà Phật kể rằng, ngày xưa, có một con thằn lằn chọn Nghiệp…Biết mình sắp viên tịch, vị sư già quyết định đọc một biến kinh sau cùng của đời mình để bày tỏ lòng ăn năn hối cải. Nhưng biến kinh của ông không bao giờ thực hiện được vì khi sắp hết bài thì ngọn đèn chợt tắt và câm bặt hết ánh sáng. Con thằn lắn đã bò lên mặt bàn, lên đĩa đèn và uống cạn dầu. Khám phá ra con thằn lằn, vị sư già mắng nó là “nghiệp súc” và cầm dùi chuông đánh chết nó. Linh hồn của con thằn lằn bay về địa ngục. Diêm vương cho nó biết là nó được tự do lựa chọn cách hoá thân. Con thằn lằn khấn nguyện rằng xin đem nó đến đài hòan vũ và tiêu hủy thân nó thành tro bụi. Mỗi hạt bụi được tung ra khắp bốn phương trời, sẽ hóa thành một tia sáng, soi rọi vào chốn mê lầm của con người.
Thuở niên thiếu, vì hoàn cảnh riêng, gia đình đã gửi Trịnh Công Sơn vào một ngôi chùa. Ở đó, Trịnh Công Sơn hàng ngày đứng bên vị sư già chùa Hiếu Quang để lật từng trang kinh cho sư thầy đọc.

Con thằn lằn chọn nghiệp từ thuở ấy….

(st)
Sửa lần cuối bởi Cun_cauquay vào ngày Thứ sáu 28 Tháng 11 2008 12:54 am với 1 lần sửa.
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

CON SỐ 4 TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG

Bài viết mớigửi bởi levanhung » Thứ sáu 04 Tháng 4 2008 1:45 pm

Các nguồn tư tưởng, triết học phương Đông đều đề cập tới chữ Tứ, túc là nói về con số 4, con số có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần.
Phật giáo nói đến Tứ Diệu Đế, tức nói đến 4 lẽ mầu nhiệm : Sinh, Khổ, Diệt, Đạo; đồng thời nói đến Tứ khổ : Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Từ đó, đưa ra 4 giải pháp. Thứ nhất là Tứ pháp niệm Phật ( 4 phép niệm Phật ), Thật tướng niệm Phật, Quán tướng niệm Phật, Từ danh niệm Phật. Thứ hai là Tứ niệm xứ, tức là 4 nơi con người phải hằng nghĩ là : Quán thân bất tịnh, Quán tâm vô thường, Quán pháp vô ngã, Quán thọ thị khổ. Thứ ba là Tứ thần túc ( thần là thần thông, túc là chân của thần ). Thân đứng vững là nhờ có hai chân, chân ví như phép Thiền định, nên thần thông được sinh ra nhờ Thiền định. Tứ thần túc là 4 phép thiền định : Dục thần túc, Tinh tấn thần túc, Nhất tâm thần túc, Quán thần túc. Và thứ tư là Tứ như ý túc, tức là 4 phép làm nơi nương tựa cho các công đức Thiền định, thần thông được thành tựu mỹ mãn như ý muốn. Tứ như ý túc là : Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Nhất tâm như ý túc, Quán như ý túc.
Triết học Trung quốc, về vũ trụ quan, cho rằng bản căn của vũ trụ vạn vật là Thái cực. Thái cực là một cái khí tiên thiên, một thứ linh căn bất sinh. bất diệt và rất huyền diệu, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất, hai nguyên tố đó về sau phân lập mà thành hai khí Âm và Dương. Như vậy, cái đại lịch trình biến hoá trong vũ trụ có khởi điểm là Thái cực. Từ nơi Thái cực sinh ra Lưỡng nghi ( tức là Âm và Dương ). Từ nơi Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng ( tức là 4 mùa ). Từ nơi Tứ tượng mới sinh ra Bát quái ( Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài ).
Do đó, có thể hiểu rằng, vạn vật luôn luôn chuyển động, biến hoá, nhưng sự chuyển động, biến hoá đó không bao giờ lâm vào trạng thái rối loạn, mà trái lại luôn luôn diễn ra trong vòng trật tự. Sỡ dĩ như vậy, là do có một quy luật chi phối một cách thường hằng. Quy luật thường hằng đó là quy luật Phản phục : Vạn vật chuyển biến cứ hết thịnh lại suy, suy rồi lại thịnh. Từ cực thịnh qua suy vi tới huỷ diệt là Phản. Từ huỷ diệt lại sinh thành để rồi lại phát triển tới cực thịnh là Phục.
“Quá trình biến hoá của sự vật từ lúc “bắt đầu” tới lúc “hình thành” ( gọi là “Đại hoá lưu hành”) phải trải qua 4 nấc là : Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.
Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh là 4 hiện tượng, 4 trạng thái trong quá trình diễn biến của sự vật, hay là cái động lực vận hành tạo nên sinh mệnh.
Nguyên là đầu, chỉ cái khởi đoan phát động của sinh mệnh; nghĩa là cái trạng thái của vật khi bắt đầu vào cuộc sống.
Hanh là hanh thông, là thông đồng. Khi sinh mệnh của vật đã hiển hiện trong thực tế, tương thông với ngoại giới, thì trạng thái của nó lúc đó là “hanh”.
Lợi là thuận lợi, là trạng thái của vật khi tương thông với ngoại giới, nó đã thích ứng được với hoàn cảnh.
Trinh là thành tựu hẳn hoi, tức là trạng thái của sinh vật vì thích ứng được với hoàn cảnh một cách thuận lợi mà đã hình thành tốt đẹp”.
Quá trình diễn biến từ lúc vật “bắt đầu” đến lúc vật “hình thành”, triết học ngày nay gọi là “quá trình biện chứng” ( Processus dialectique ).
Sau đó, cuộc biến hoá vẫn tiếp diễn nơi sự vật, nhưng bây giờ lại kinh qua một con số 4 khác; đó là 4 giai đoạn : Thành, Thịnh, Suy, Huỷ.
Cuộc biến hoá của sự vật, như thế, cứ tiếp diễn mãi mãi không ngừng. Sở dĩ như vậy là vì Âm - Dương đắp đổi xoay vần, theo cái quy luật “tuần hoàn tiêu tức”, nghĩa là “thịnh – suy đắp đổi”, cứ nẩy nở đến cực độ thì hao mòn dần, hao mòn đến cực độ thì lại bắt đầu nẩy nở. Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy, lần lượt theo hình vòng tròn không có chổ tận cùng. Cần chú ý, đây là vòng tuần hoàn “nguyên thuỷ phản chung” ( bước đầu lại quay về chỗ cuối ); mới biết tưởng là một vòng tròn luẩn quẩn, nhắc đi nhắc lại, không có sinh thành sáng tạo, nhưng thực ra, tuần hoàn vòng tròn chỉ là nói về cái toàn thể tuyệt đối, còn về mặt bộ phận tương đối thì luôn luôn có sự sinh thành, đổi mới. Nói cụ thể hơn, đó là vòng tuần hoàn xoáy ốc, chứ không phải là một thứ vòng tròn khép kín. Đối với Dân tộc ta, chính niềm tin vào vòng tuần hoàn xoáy ốc ấy đã bao trùm một ý nghĩa thấm nhuần, hài hoà về triết lý nhân sinh của văn hoá dân gian Việt nam, của tâm thức Việt nam, là thế giới luôn luôn động, luôn luôn có biến hoá về lượng tính.
Như vậy, vạn vật, con người thịnh phát, an vui đều trong Tứ tượng ( 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông ), dân gian thườngg gọi là Tứ thời ( 4 mùa, chỉ cả năm; như Truyện Cúc Hoa có câu : Có cây cổ thụ, có hoa tứ thời, hay tên một tập thơ chữ Nôm của Hoàng Sĩ Khải, danh sĩ đời Mạc, là Tứ thời khúc ). Rồi chính từ Tứ thời mà nảy sinh Tứ quý ( quý xuân, quý hạ, quý thu, quý đông ). Hai mùa Xuân - Hạ tượng Dương; Thu – Đông tượng Âm. Mà Âm – Dương hoà hợp thì phát sinh muôn vật, biến ra ngàn cảnh.
levanhung
 
Bài viết: 131
Ngày tham gia: Thứ hai 15 Tháng 5 2006 10:15 am

Bài viết mớigửi bởi levanhung » Thứ sáu 04 Tháng 4 2008 2:06 pm

Về quan niệm nhân sinh, Nho giáo chủ trương phải đọc và học Tứ thư, tức là 4 bộ sách quan trọng là : Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Và học Tứ thuật, tức là 4 thứ học thuật : Thi, Thư, Lễ, Nhạc. Học Tứ thư, Tứ thuật là để noi gương Thánh hiền mà dọn mình cho trong sạch hầu có thể xử thế, lập thân. Nhờ thế mà đã là nam nhi thì phải nuôi chí Tứ phương hồ thỉ, tức là cái chí tung hoành của kẻ trượng phu ( Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương – Nguyễn Du ). Còn phụ nữ thì trau dồi Tứ đức, tức 4 đức hạnh : phụ đức ( sự trinh thuần ), phụ ngôn ( lời nói tốt lành ), phụ dung ( nét mặt, hình dáng dịu dàng ), phụ công ( sự chăm chỉ, khéo léo trong công việc ). Tứ đức ấy thường được các bà mẹ của chúng ta đem dạy con gái một cách dễ hiểu, dễ nhớ là : công, dung, ngôn, hạnh ( Tam tòng Tứ đức dưới trên thuận hoà ).
Như thế, Nho giáo lấy đạo đức tu thân, lấy lễ nghi xử thế, nam cũng như nữ, để phục vụ nhân quần xã hội, thực hiện được Tứ ích là : học để trị nước, cày ruộng để có lúa gạo mà ăn, dệt vải để có áo mặc, buôn bán để có tiền bạc, giàu có. Nếu Tứ dân ( sĩ, nông, công, thương ) mà đều làm được như vậy thì dân giàu, nước mạnh, xã hội thịnh vượng, văn minh.
Riêng kẻ sĩ, ngoài việc coi Tứ hải là nhà, bốn bể đều là anh em ( tứ hải giai huynh đệ ), còn phải là người luôn luôn biết quý Ýư bảo ( giấy, bút, mực, nghiên ), vì đó chính là Tứ hữu, tức là 4 người bạn tốt của kẻ sĩ, văn nhân.
Đồng thời, kẻ sĩ phải biết Tứ tri, tức 4 kẻ hay, biết. Theo Hậu Hán thư, khi Vương Mật, đời Hậu Hán, đang đêm mang mười cân vàng đến đút lót Dương Chấn, và bảo rằng sẽ không ai biết, khỏi lo, Dương Chấn đã hỏi lại : “Thiên tri, thần tri, ngã tri, tử tri, hà vị vô tri?” ( Trời biết, thần biết, ta biết, ông biết, sao lại bảo không ai biết?). Ý nói, làm việc gì ám muội, thì sẽ không giấu được ai, mà còn thẹn cả với lương tâm.
Người xưa cũng dạy, khi không thể đem tài đức ra giúp đời, không thể trở trhành Tứ trụ ( 4 cây cột, chỉ 4 vị quan đại thần chống đỡ triều đình, gồm 4 Đại học sĩ : Đông Các, Võ Hiển, Văn Minh và Cần Chánh ), thì nên chọn theo Tứ thú, tức là làm một trong 4 kẻ : Ngư, Tiều, Canh, Mục; quanh năm suốt tháng giong một chiếc thuyền con trên mặt nước, qua lại đường dê, dặm thỏ, giữa đồng ruộng hát ca, trên lưng trâu thổi sáo. Đó chính là cuộc sống ung dung tự tại, giữ mình trong sạch “an bần lạc đạo” giữa khi thói đời vẫn quen chen chân vào chốn lợi danh phiền trược. Đó không phải là cách sống yếm thế, mà chỉ là một quan niệm đạo đức, nhưng đã dễ có mấy ai theo được?.
Cũng cần nói thêm là, 4 nhân vật Ngư, Tiều, Canh, Mục cùng với Mai, Lan, Cúc, Trúc và Mai, Điểu, Tùng, Lộc đã đi vào nghệ thuật hội hoạ xưa, trở thành đề tài ưa thích của các hoạ sĩ, tạo thành những bộ tranh gồm 4 bức, gọi là Tứ bình. Trong đó Mai đứng đầu bộ Tứ quý ( chỉ thực vật ), tương xứng với Tứ linh ( chỉ 4 động vật linh thiêng ) là Long, Lân, Quy, Phụng.
Xem thế, con số 4 quả là quan trọng trong đời sống tinh thần người phương Đông.
Về mặt trái của con số 4, người xưa khuyên chớ nên theo Tứ ác, Tứ hung, vì sách tả truyện kể : Bốn kẻ ác, bốn kẻ hung bạo là Hầu Đôn, Cùng Kỷ, Đạo Ngột, Thao Thiết đều bị vua Nghiêu đày đi xa. Tránh Tứ đổ tường, tức 4 thứ ăn chơi : Tửu, Sắc, Yên, Đổ ( tửu : rượu chè; sắc : đàn bà, tình dục bừa bãi; yên : khói, xưa là hút thuốc phiện, nay là hít, tiêm ma tuý; đổ : cờ bạc, số đề ) mà trước sau gì nó cũng làm “thân bại danh liệt”, đưa tới “tan cửa nát nhà”. Cái hoạ ấy, lạ thay, lại có lắm người đang thích thú theo đuổi.
(Sưu tầm )
levanhung
 
Bài viết: 131
Ngày tham gia: Thứ hai 15 Tháng 5 2006 10:15 am

Ngã rẽ cuộc đời

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ bảy 07 Tháng 6 2008 4:32 am

Khi thưởng thức một nhạc phẩm nào đó bạn thường hiểu hết được những gì tác giả muốn bày tỏ mặc dù bạn cảm nhận được nó rất hay?
Ắt hẳn là không!

Có những lúc mỗi chúng ta khi nghe một nhạc phẩm nào đó mặc dù không hiểu hết những gì tác giả muốn gửi gắm, thế nhưng ta vẫn nhận ra cái hay, cái độc đáo của nó (Các nhạc phẩm nước ngoài, bất hủ vượt thời gian như của nhóm ABBA, Carpenters, Modern Talking, Scorpions,… là những ví dụ cụ thể nhất).

Đây cũng là lý do vì sao khi nghe nhạc của cố nhạc sĩTrịnh Công Sơn, chúng ta có thể không hiểu hết những gì ông muốn nói thế nhưng ai cũng đều thấy hình ảnh “mình” trong ấy, cho dù “mình” này không giống “mình” kia và ngược lại.

Có người đã nói rằng, trong mỗi cuộc đời có một ngả rẽ và Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Với ông thì…. “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ" (Mưa Hồng). Ông không hề mặc cả với cuộc đời, ông vươn "đôi tay thật dài ôm quanh tình người" để mà tự vấn "Tôi là ai, là ai, là ai mà yêu quá đời này" (Đừng tuyệt vọng).

Hôm nay Cún sưu tầm thêm về cái duyên hay cái ngã rẽ đã đưa Trịnh Công Sơn đến với nhạc và để lại cho đời những tác phẩm độ sộ, gấp hơn 10 lần so với số tuổi của ông.

Trong Đạo học phương Đông, kể cả Nho, Thích, Lão... thường nhắc đến một sự "ấn chứng tuyệt chiêu" nằm ngoài kinh điển: Đó là trường hợp "vô sư tự ngộ" hay "không thầy tự mày làm nên"!

Có lẽ Đông Tây gặp nhau đầy thú vị ở điểm này. Một nhân vật "tự mày làm nên" vô sư vô sách ở phương Đông cũng gần giống như một "self-made man" ở phương Tây. Một khi đã thành công thì sự nghiệp thường vinh quang và kiệt xuất hơn người.

Lý do đơn giản bởi vì sách vở luật lệ là sản phẩm do con người giới hạn và nhỏ bé làm ra, nên có người vượt ra ngoài những quy ước nhỏ bé ấy sẽ tự mình tìm thấy cho người và cho mình một phương trời cao rộng phi thường và thông thoáng hơn.

Chuyện đúng sai về câu hỏi cho rằng, có chăng một động cơ tình cờ, may rủi hay có sự sắp đặt huyền nhiệm nào đó để cho mỗi con người có một hoàn cảnh khác nhau không phải là mục tiêu của bài viết nầy. Nơi đây, người viết chỉ mong được góp vài câu "thanh nghị" về trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để thêm hương vị làm cho câu chuyện đầu Xuân vui dòn hơn.

Một ngày đầu tháng 11.2007, trong ngôi nhà của gia đình Trịnh Quang Hà, em trai kế của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại Sacramento, bang California, những người bạn quây quần bên chén trà, ly rượu lặng nghe Trịnh Quang Hà nói về "miếng đòn định mệnh" đã đưa Trịnh Công Sơn từ giấc mơ võ sĩ sang đời nhạc sĩ.

Thời 1956 -1957 ở Huế, song song với việc học văn hóa, cả hai anh em Sơn và Hà (cách nhau 2 tuổi) đều học võ thuật. Theo Trịnh Quang Hà thì "Thời anh Sơn đã lớn, 18, 19 tuổi rồi mà chỉ thấy anh mê tập võ. Trong nhà có một cây đàn ghi-ta nhưng mình ít thấy anh Sơn sờ tới. Anh thường mân mê những cặp "găng" bốc-xơ, tập đi những bài quyền của phái Vo-vi-nam, nghiên cứu và luyện theo sách nhu đạo... Anh thường xuyên nói chuyện võ với mình chứ không nghe anh nói về chuyện nhạc".

Vẫn theo lời kể của Trịnh Quang Hà, "Vào một buổi sáng mùa hè năm 1957, ở sân nhà trên đường Phan Bội Châu, Sơn và Hà dợt võ thuật với nhau để chuẩn bị thi lên đai. Sau một hồi tập dượt hết mình thì một sự cố bất ngờ xẩy ra. Cùi chỏ của Hà đánh trúng một đòn chí mạng vào ngực Sơn. Sơn thổ huyết lai láng và nằm gục ngay tại chỗ...".

Sau biến cố, Trịnh Công Sơn nằm liệt giường chữa bệnh 2 năm. Trong suốt cả năm đầu chỉ húp cháo lỏng và phải có người đút vào miệng. Vẫn theo lời kể của Trịnh Quang Hà, khi Sơn gượng dậy được thì thú vui còn lại trong một hoàn cảnh như thế là tìm đến "cây đàn bỏ quên". Với kiến thức nhạc lý căn bản trong những năm học trung học trường Tây, Trịnh Công Sơn tìm vào thế giới âm thanh như một lối thoát, một ngã rẽ tình cờ.
Ngày rời giường bệnh cũng là ngày Trịnh Công Sơn đã "vịn âm thanh mà đứng dậy". Nhạc Trịnh Công Sơn đã có một đường bay nghệ thuật riêng. Ca từ của Trịnh Công Sơn có mãnh lực diệu kỳ cuốn hút người thưởng ngoạn nghệ thuật. Đã nhiều người thắc mắc là tại sao người ta vẫn yêu thích ca từ của nhạc Trịnh ngay cả khi người ta không hiểu tác giả muốn nói gì qua lời ca.

Trong thiền tịnh, người ta "quán" để hiểu tính thật của sự vật. Quán niệm là khước từ phương tiện nghèo nàn và giới hạn của ngôn ngữ để tiếp cận và trực nhận ý nghĩa thật của sự vật.

Phải chăng 2 năm nằm liệt giường trong không gian rỗng lặng và thời gian tụ tán vô thường của Huế, Trịnh Công Sơn đã "quán" được ý nghĩa đích thực của ngôn ngữ nên đã dùng chữ nghĩa mà không bị cột trói dính mắc vào hình tướng giả tạm của nó?

Trịnh Công Sơn đã thổi hồn phách vào lời nhạc mà không thông qua những khái niệm đời thường của ngôn ngữ... Vì thế, Trịnh Công Sơn và ngôn ngữ chỉ có một bên chiến thắng. Khi người ta quên ký hiệu ngôn ngữ để chỉ còn nhớ lời ca của nhạc Trịnh Công Sơn được hát lên, tấu lên thành giai điệu đầy ắp, chiếm ngự lòng ta mà không cần phân tích lý luận "lời buồn thánh", "cỏ xót xa đưa..." là gì thì chính là khi Trịnh Công Sơn ca khúc khải hoàn!
(st)
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi duongquangdung » Thứ bảy 06 Tháng 9 2008 4:04 pm

Cac ban am hieu ve nhac TRINH va cuoc doi cua TRINH qua.Dung ko biet nhieu nhu vay dau.Nen doc den dau Dcung thay la lam qua.Chung quanh cuoc doi cua ong qua la co rat nhieu dieu li thu.Duong nhu nhung nguoi noi tieng deu nhu vay.Dung ko the cat nghia ve nhung ngon tu trong cua TRINH duoc.NHung cho den luc nay ,khi ma moi chieu ve long deu nghe hoang vang,deu buon va nho den mot cai gi do da qua xa xoi,Dung moi cam thay duong nhu nhung bai hat ma ong ay viet ra lade danh rieng cho minh.Ngam nhung bai hat cua TRINH ma long D cam thay rat hanh phuc.Dau la hanh phuc trong chua cay.Dung xin gui vao day 2 bai tho ma Dung da lam.Cach day khoang hon nua nam,cac ban doc choi nhe
17 nam sau toi ghe lai tham nguoi
Tham xu .......mot thoi toi vung dai
Tham con mua dem ,mot noi buon te tai
Tham tuoi 20 vung dai moi tinh dau

17 nam roi sao van mot nem dau
Nghe nguoi noi loi thuong ma long buon khon xiet
Ai cung chi co 1 lan li biet
Tao hoa von thuong ta,uu ai tang hai lan

17 nam roi sao moi mot mua xuan
Phan con lai toan thu vang rung la
Ai cho ai ma ngoinhu hoa da
Chen ruou sau uong mai ko voi

17 nam roi sao toi van minh toi
Moi chieu xuong vn nghe long quay quat
Cau tho cu toi viet bnag nuoc mat
Boi dem dem mua van mai vong ve



BAI THU HAI

Toi biet ma roi em se bo thoi
Cai ga con trai vua ngheo vua xau
Toi ko phai la noi ma thuyen em tim ben dau
Coi nhan gian ai cung vay ma
Toi biet roi,em cung noi chia xa
Boi no ao com vai toi ko ganh duoc
Nen su song ben em van hoai la mo uoc
Va moi mai leu tranh thieu mot trai tim vang
Toi biet ma,roi minh cung do dang
Boi cung nhu xua em luon tu choi
Dem chia tay nhin dang em buoc voi
Moi biet con mua dem ko phai cua rieng minh
Toi biet ma,doi roi cung buon tenh
Boi niem vui ko phai la hanh phuc
Thoi thi hay gang len dung nga guc
Khi moi sinh ra,ta da khoc roi ma

Thoi chao nhe
Chuc cac abn ngu ngon
duongquangdung
 
Bài viết: 17
Ngày tham gia: Chủ nhật 10 Tháng 8 2008 11:37 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ bảy 06 Tháng 9 2008 5:53 pm

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Nắng vàng phai như một nỗi đời riêng
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh


Duongquangdung- bạn à!
Một người thương thương đã nói Cún với rằng: Cuộc đời người là một chuyến hành trình. Có bến đỗ bình yên nhưng cũng có những bến đỗ chưa thật sự là bến đỗ, để rồi cứ thế chúng ta lại phải tiếp tục lên đường.

Những khó khăn chỉ là thử thách để khi vượt qua nó, chúng ta càng thấy giá trị đích thực của cuộc sống này.
Trong bài gửi kỷ yếu, cô giáo N.H nhà ta có trích lời của một nhà thơ rằng:
“Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”

Cún hy vọng bạn sẽ tìm thấy “bình yên trong bão dông”. Và ....“Hết mưa là nắng ửng lên thôi”.

Mời bạn và cả nhà cùng lắng nghe ca khúc "Tôi ơi đừng tuyệt Vọng" này do chính cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trình bày.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa ...

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ năm 27 Tháng 11 2008 6:37 pm

Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa ...
--- Ngự Thuyết ---

Văn Cao, nhạc rất hay, nhưng quá ít ỏi, và không hề đề cập đến phố xá, chỉ có lần mô tả ngôi làng cũ trong bài Làng Tôi
Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều
Tiếng chuông nhà thờ ngân
...”

Ngay cả Phạm Duy với cả ngàn bài ca đã có mấy bài nhắc nhở đến đô thị. Trái lại Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ đầu tiên nói đến phố phường nhiều nhất. Nếu chuồn chuồn, châu chấu bay lượn, nhảy nhót nơi hoa đồng cỏ nội, nếu loài ếch nhái lặn lội thong dong trong các ao chuôm, đầm lầy, nếu cái cò, cái vạc, cái nông dang rộng đôi cánh trên các thửa ruộng, mảnh vườn nơi thôn dã, thì Trịnh Công Sơn là con sâu của thành phố, là loài sâu ngủ quên trong tóc chiều. Con sâu đánh kén, làm tổ, con sâu rạo rực muốn biến thành cánh bướm, rồi con sâu cô đơn, con sâu bị hắt hủi, con sâu lạc lỏng, bơ vơ... để sẽ có ngày nó đục khoét cả trái tim của chính mình. Thật khó nói cho hết tâm tư của Trịnh Công Sơn đối với phố phường.

Xưa, người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm nhớ chồng, không biết làm gì hơn là lên lầu cao nhìn ra xa tìm bóng dáng của chiếc chiến xa đưa chồng mình ra trận:
Vui có một tấm lòng chẳng dứt
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
Lòng theo nhưng chửa thấy người
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe...


Nhìn quanh, trông bến nam, đường bắc, non đông, lũng tây nhưng nào thấy tăm hơi. Ðành phải tìm chàng ở những chốn cũ nơi đôi lứa từng đặt chân đến – tìm trong giấc mơ:
Duy còn hồn mộng được gần
Ðêm đêm thường đến giang tân tìm người
Tìm chàng thuở dương đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa...


Trong Truyện Kiều, Kim Trọng, may mắn hơn, có thể trở lại nơi gặp Kiều lần đầu dù không còn tìm được dấu vết gì:
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như giục cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu


Người xưa tương tư như thế đó thì nay Trịnh Công Sơn cũng không khác mấy. Cũng bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, cũng đi tìm những nơi kỳ ngộ. Có khác chăng, thay vì lẩn thẩn đi tìm trong mộng như người chinh phụ, hay đi tới những vùng mới hôm nào cỏ non xanh tận chân trời bây giờ đã ngả qua màu xanh rì, lác đác đám vi lô hiu hắt như chàng Kim, Trịnh Công Sơn lại một mình qua phố. Ta thử hát lên trong lòng những lời ca của anh thời còn trẻ – phải hát lên, chứ không chỉ đọc ca từ, nhạc và lời quấn quýt nhau. Nếu được, cầm cây saxo lên mà thổi thì khỏi phải hát. Nếu không, hát nhè nhẹ trong cổ họng cho ngực cồn cào lên một chút, cho tim nhói lên từng hồi. Và phải hát một mình trong buổi chiều có một ít nắng và gió. Trước khi hát, một ngụm rượu mạnh nhé:
Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
...
Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
(Chiều Một Mình Qua Phố)

Nhớ tên em quay quắt, nhớ khiến hai dòng nước mắt của anh muốn trào ra, nhưng cố nén lại, chỉ muốn nhớ âm thầm, chỉ muốn có một cơn gió tình cờ nào nổi lên. Ðể làm gì? Ðể gió tung bụi vào làm cay mắt, để chàng tự đánh lừa mình không quá mềm yếu khóc sướt mướt vì nhớ. Mà nhớ tên em chứ không phải nhớ em! Chàng cả thẹn hay còn có tâm sự u uẩn nào khác:
Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
Gió ơi gió ơi bay lên - Ðể bụi đường cay lòng mắt
(Chiều Một Mình Qua Phố)

Trong nhạc Trịnh Công Sơn nếp sống nông nghiệp đã phai mờ lắm rồi. Dường như không còn dấu vết. Sinh hoạt của thị dân, nhịp đập của phố phường, trái tim của Sài Gòn, hiện lên rõ rệt:
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng
Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân
Nhớ đèn đường từng đêm thao thức
...
Nhớ đường dài qua cầu lại nối
Nhớ những con sông nối bao dòng kinh
Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng
Nối xôn xao hàng quán đêm đêm
...
Nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng
Phố em qua gạch ngói quen tên
...
Có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở mưa nắng đi.
(Em Còn Nhớ Hay Em Ðã Quên)

Và còn nhiều nữa, những góc phố thân yêu, những đường phố cười, những đường rất tình, những đường rất gần ( Có Những Con Ðường), những giây phút thần tiên đã trôi qua bên người mình yêu, những công viên nghe tiếng bước chân người đẹp giẫm trên lối đi, nhìn đôi mắt to ngỡ ngàng”
Em qua công viên bước chân âm thầm
Em qua công viên mắt em ngây tròn
” (Nắng Thủy Tinh).

Trịnh Công Sơn của giai đoạn này còn mang một linh hồn tươi mát, một cung cách rất lãng mạn và trữ tình của tuổi thanh xuân muôn thuở. Nhưng hãy lắng nghe cho kỹ, đằng sau những lời yêu đương ấy hình như còn có thêm những điều gì đó khác hẳn những người đi trước.

Xưa, người chinh phụ nhớ chồng, tìm chồng trong mộng, mong ngày về vinh quang của chồng. Và hết chuyện. Chàng Kim nhớ Kiều, đi tìm nơi gặp gỡ cũ cho đỡ nhớ, nhưng làm như vậy nỗi nhớ càng tăng, nên chỉ còn cách là dọn nhà đến gần nhà Kiều mong có dịp thấy lại giai nhân. Ta phải khâm phục quyết tâm của chàng Kim:
Song hồ nửa khép cánh mây
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông
Tấc gang động khóa nguồn phong
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra...

Cuối cùng dịp may tất nhiên phải đến, Kim gặp Kiều, thế là tha hồ hẹn biển thề non. Người xưa trắng đen rõ ràng, dứt khoát, giản dị.

Gần chúng ta hơn, Xuân Diệu cũng có khi nhớ người yêu:
Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi! ...


Nhưng lời lẽ trong hai câu dưới “hùng hồn” và “kêu” quá, e gặp phải hiệu quả ngược: hai câu thơ ấy không gợi lên được một cảm xúc nào cả. Chữ nghĩa nghe có vẻ hài hước, vừa dóng lên đã chết đứng. Làm hỏng cả đoạn thơ. Lẽ dĩ nhiên Xuân Diệu còn có những bài thơ tình khác hay hơn bài đó, nhưng tựu trung cũng chỉ những chuyện anh anh em em khá hời hợt thế thôi. Thơ tình từ Xuân Diệu đến Thanh Tâm Tuyền (tình cay đắng) hay Nguyên Sa (tình ngọt ngào) chẳng hạn là cả một khoảng cách lớn về thời gian cũng như về giá trị. Tôi không muốn nói người sau tất yếu phải hơn người trước (nỗi nhớ nhung của Kim Trọng, của Thúc Sinh đối với Kiều hẳn là đậm đà, da diết hơn Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi dù Nguyễn Du sống trước Xuân Diệu hơn một thế kỷ), nhưng tôi lấy làm lạ mỗi lần nói đến thơ tình, tình yêu nam nữ, người ta có thói quen nhắc đến Xuân Diệu. Thật ra, thơ tiền chiến của Xuân Diệu thành công ở những lãnh vực khác hơn. Sau 1945, Xuân Diệu không còn là nhà thơ nữa.

Trong Trịnh Công Sơn ngay vào những buổi đầu đời, ta thử lắng nghe cho kỹ như trên đã nói, cùng với điệu nhạc lời ca dìu dặt, khi thì nồng nàn, êm ái, khi thì bâng khuâng, bồi hồi, ta còn mơ hồ cảm thấy những âm vang khác, với một chút thê lương, một chút áo não, và rất nhiều hoang mang, bơ vơ. Xưa không có thế. Phải chăng đó là tiếng buồn của thời đại, ám ảnh của chiến tranh, của chết chóc, nỗi cô đơn, ngắn ngủi, bất hạnh của kiếp người, của thân phận. Chẳng bao lâu sau đó những tiếng buồn không nguôi ấy càng đậm nét dần theo năm tháng.
Hãy để ý đến hai tình huống hoàn toàn tương phản dưới đây giữa hai người yêu nhau.
Trong khi nàng:
Em đến bên đời hoa vàng một đoá.
Một thoáng hương bay bên trời phố hạ.

...
Em cười đâu đó trong lòng phố xá đông vui.
thì chàng:
Một cõi bao la ta về ngậm ngùi. (Hoa Vàng Mấy Ðộ)
Tại sao thế? Tại sao anh phải trở về ngậm ngùi một mình? Tại sao anh không cùng người yêu đến những phố xá đông vui? Tại sao phải tìm về một cõi bao la? Cõi bao la là cõi nào? Cõi chết chăng đã bắt đầu lấp ló ở đầu đường, hay giữa đường, hay ở cuối đường?

Trong một ca khúc khác anh cũng ở lại một mình tưởng tượng ra nơi người yêu sắp đến, và ngồi nghe nghìn giọt lệ rơi xuống:
Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe nghìn giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh
(Như Cánh Vạc Bay)

Hình như anh không bao giờ nắm giữ được tình yêu, hình như mỗi lần chia tay với người yêu là mỗi lần vĩnh biệt:
Nắng có còn hờn ghen môi em
Mưa có còn buồn trong mắt trong
Từ lúc đưa em về
Là biết xa nghìn trùng

(Như Cánh Vạc Bay)

Trong Ru Ta Ngậm Ngùi nỗi đau buồn của Trịnh Công Sơn đã đến mức ngoài sức chịu đựng. Cho nên anh phải sục sạo đi tìm, đi xin. Ai trong chúng ta có thể dửng dưng được khi chứng kiến một người đang cố gắng tìm vui! Mà tìm vui trên đường phố nào? Còn phố nào vui nữa hay không cho chàng được phép tới? Thật là bi thiết, thật là một cố gắng đau đớn và tuyệt vọng:
Có đường phố nào vui
Cho ta qua một ngày.
Có sợi tóc nào bay
Trong trí nhớ nhỏ nhoi.
Không còn không còn ai
Ta trôi trong cuộc đời.
Không chờ không chờ ai.


Có lần TCS đã thảng thốt bộc lộ:
Trên quê hương còn lại
Ta đi qua nửa đời
Chưa thấy được ngày vui
(Những Con Mắt Trần Gian)

Thành phố của TCS, càng lúc càng ảm đạm. Ðó là những thành phố buồn:
Ðường phố buồn một đường phố buồn
Ðường phố buồn mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Ðường im lìm
.
(Có Những Con Ðường)

Có khi đó là một thành phố lạ đang thiêm thiếp ngủ :
Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
...
Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
(Ðêm Thấy Ta Là Thác Ðổ)


Cũng có hôm anh ghé qua phố hoang tàn mà anh cảm thấy quen thuộc như đã có lần tới. Câu ca khá hàm hỗn. Thế thì thật ra anh đã từng đến phố ấy nên có cảm tưởng quen quen, hay chưa từng đến nhưng đối với anh phố nào thì cũng hoang tàn thế thôi:
Bỗng một hôm qua phố hoang tàn
Tôi quen như tôi đã có lần.
(Gần Như Niềm Tuyệt Vọng)

Con người sầu khổ, cô đơn và bơ vơ ấy lòng ngổn ngang trăm mối, đứng ngồi không yên, không biết đi đâu, về đâu. Về phố xưa nằm xuống tưởng mình đã chết bên cạnh cánh đồng vắng nhé. Ðồng vắng hay bãi tha ma! Hay lên phố cao nguyên ngồi xuống nghe tiếng gà gáy trưa, không còn tiếng người, loài người. Ngồi chán, một mình đứng dậy lầm lũi bước hoài. Hay lần mò đến con phố xa – phố đã biến thành một loài thú, con phố, một lối nói hơi lạ, con phố đã bỏ đi xa - trong đêm khuya đứng ngoài nhìn vào. Hay cứ thử quay về ngồi yên dưới mái nhà:
Về trong phố xưa tôi nằm
Có lần nghe tiếng ru bên vườn
Chợt như xác thân không còn
Và cạnh tôi là đồng vắng
Về trên phố cao nguyên ngồi
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi
Chợt như phố kia không người
Còn lại tôi bước hoài
...
Nhiều khi đứng riêng ngoài
Nhiều đêm muốn đi về con phố xa
Nhiều đêm muốn quay về
Ngồi yên dưới mái nhà.
(Lời Thiên Thu Gọi)

Phố phường không còn là nơi trú ẩn, không còn là chốn về ấm cúng, dù loài người có còn đó đi nữa. Không, chỉ còn những mặt người thôi, chứ không phải con người, làm cho phố hoang mang. Mà sao lại mặt người? Hai tiếng đó có thể gây liên tưởng đến thành ngữ “mặt người dạ thú” hay không:
Có nỗi bùi ngùi bay đi thầm lặng
Có những mặt người giữa phố hoang mang.
(Bay Ði Thầm Lặng)

Thì về đâu? Không lẽ ..
Về bên núi nghe đá ngậm ngùi!
Cuồng phong cánh mỏi
Về bên núi đợi
Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay.
(Chiếc Lá Thu Phai)
Không lẽ
Về cõi chiêm bao,
cồn bãi hoang vu!
Anh đi đâu về đâu?
Về cõi chiêm bao
Lìa những cơn đau
...
Anh đi đâu về đâu?
Ngọn gió hư hao thổi suốt đêm thâu
Ðời sẽ lênh đênh nơi nao
Cồn bãi hoang vu bạc đầu

(Có Một Ngày Như Thế)

Thế nhưng cũng có lần bàn chân, chứ không phải chính bản thân con người lạc lõng ấy, theo quán tính, mang thân xác anh đi trở lại phố phường. Anh thấy phố xa lạ nhiều, thấy người ta như sóng lao xao trên biển rộng mà mình chỉ đứng trên bờ trông ngóng:
Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
...
Có lần bàn chân qua phố
Thấy người sóng lao xao bờ tôi.
(Có Một Dòng Sông Ðã Qua Ðời)

Phố phường thân yêu thuở nào, những bạn bè chào nhau quen tiếng, phố em qua gạch ngói quen tên, những phố xưa quen biết tên bàn chân, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian màu áo bay lên, có em đi tà áo phiêu bồng, có những hàng quán xôn xao, có món ăn quen, có ly chè thơm, có én nô đùa, có đèn đêm thao thức ... nghĩa là có biết bao nhiêu là “phẩm vật của trần gian”, rốt cuộc đã trở thành phố lạ, phố xa, phố hoang tàn, phố hoang mang. Con sâu của thành phố biết đi về đâu? Ðó là tấn bi kịch của Trịnh Công Sơn, của một kiếp sống lưu đày ngay trên quê hương của mình.


nguồn: http://www.dactrung.com
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa ...

Bài viết mớigửi bởi J. Valjean » Thứ sáu 28 Tháng 11 2008 10:32 am

Cun_cauquay đã viết:Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa ...
--- Ngự Thuyết ---

nhưng tôi lấy làm lạ mỗi lần nói đến thơ tình, tình yêu nam nữ, người ta có thói quen nhắc đến Xuân Diệu. Thật ra, thơ tiền chiến của Xuân Diệu thành công ở những lãnh vực khác hơn. Sau 1945, Xuân Diệu không còn là nhà thơ nữa.

nguồn: http://www.dactrung.com

Viết về nhà thơ XD như vậy e rằng tác giả này có chủ quan quá không, XD được biết đến như là ông Hoàng thơ tình VN nhờ ở những bài thơ Ông viết trước 1945, còn sau 1945 XD có viết thơ tình thì trong hoàn cảnh lúc bấy giờ làm sao dám gởi đăng được. Nếu nói XD thành công ở lĩnh vực khác thì phải nói rõ ra là lĩnh vực nào? Phải có công trình nghiên cứu đàng hoàng chứ không thể nói suông như vậy được. Sau 1945 XD không còn là nhà thơ nữa thì là nhà gì bây giờ? Bây giờ người ta đã xuất bản trở lại những tác phẩm của XD thành những toàn tập rồi, có đầy đủ những bài thơ Ông viết trong giai đoạn 1945 - 1985, để tìm xem có thơ tình không chứ không thể chỉ có toàn Ngói Mới không thôi. Tôi có đọc 4 câu thơ của XD viết hình như năm 1981 thì phải, lúc đó Ông ốm rất nặng tưởng không qua khỏi :
Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.

Xuân Diệu mãi mãi là Ông Hoàng thơ tình Việt Nam.
Ta là lãng tử đường xa
Trời cao đất rộng là nhà thênh thang
Hình đại diện của thành viên
J. Valjean
 
Bài viết: 173
Ngày tham gia: Chủ nhật 05 Tháng 8 2007 4:07 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi funny » Thứ hai 01 Tháng 12 2008 5:41 pm

Giai điệu nhạc Trịnh ai cũng có thể nhớ, thuộc nhưng hiểu được ca từ thì vô cùng nan giải. Chẳng hạn trong bài Biển nhớ có câu: “Trời cao níu bước sơn khê”, bao nhiêu người Việt hiểu câu này nói gì dù ai cũng hát được?

Trịnh Công Sơn kể với Frank Gerke (1 người Đức bạn của Trịnh Công Sơn, vì yêu nhạc Trịnh nên lấy tên Việt Nam là Trịnh Công Long) khi anh học ĐH Sư Phạm Quy Nhơn có yêu một cô gái người Huế nhưng giữa chừng gia đình cô bắt về quê lấy chồng. Trịnh công Sơn làm bài Biển nhớ về cuộc tình ấy, “Trời cao níu bước sơn khê” là níu bước của anh Sơn và chị Khê.

Trong cuộc sống có nhiều điều tưởng phức tạp hóa ra cực kỳ đơn giản

Hình ảnh
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (trái) và
TS Frank Gerke (Trịnh Công Long)

--------

Thông tin này đúng là bây giờ mới biết. Thế mà nhiều ca sỹ cứ phân tích theo kiểu thế này: "Sơn khê: Sơn là núi, Sơn khê có nghĩa là khe núi. Trời cao níu bước sơn khê là nghệ thuật nhân hoá tài tình miêu tả cảnh mây núi trùng điệp... mây rơi vào khe núi là cho không gian muốn dừng lại. Cho nên trời cao bị níu bước, không thể nào bước đi được..." :geek:

Hê hê, với kẻ ngoại đạo âm nhạc như funny tui thì khám phá này đúng là thú vị thật. Thôi đi ngủ được rồi, khỏi cần xem chú Liverpoll đá nữa. Bữa nào đem câu đố này vào bàn nhậu thôi :sunny: .
Hình ảnhHình ảnh
ZÔ...ZDÔ!!!
Hình đại diện của thành viên
funny
 
Bài viết: 1002
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 3:04 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi duongquangdung » Thứ tư 03 Tháng 12 2008 2:50 pm

Mấy hôm nay bận quá,minh phải đi sơn cửa gần 20 ngày.Bây giờ mới xong việc.Thành thử không lên mạng được.Lúc nãy nghe Thanh trách ;sao diễn đàn mấy hôm nay buồn vậy,nghe như có lỗi của mình.Mà có lên mạng mình cũng chỉ biết đọc thôi chứ cũng chẳng biết viết gì.Lúc nãy nghe các bạn bàn tán về Trịnh Công Sơn dữ quá ,mình cũng ráng vận dụng hết 10 thành công lực đóng góp cho mảng văn thơ môt tin sốt dẻo mà mình mới thu thập được
Trong nhạc phẩm Diễm Xưa, có đoạn....chiều này còn mưa sao em không lại...Thì 2 tiếng tiếp theo la NHỠ MAI chứ không phải là NHỚ MÃI như chúng ta vẫn hay nghĩ
Các bạn thấy điều nà thế nào,có đúng không.
duongquangdung
 
Bài viết: 17
Ngày tham gia: Chủ nhật 10 Tháng 8 2008 11:37 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi friendly » Thứ tư 01 Tháng 4 2009 7:56 am

"Nhiều người thường cho rằng ba nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, tôi cũng thấy thế. Nhưng nếu phải bỏ phiếu cho một người thôi, thì tôi chọn Trịnh Công Sơn"

Nhà thơ Anh Ngọc trò chuyện nhân dịp kỷ niệm 8 năm ngày mất của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu nhạc Trịnh?

Hình ảnh
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và người bạn nhạc

- Thưa nhà thơ Anh Ngọc, theo ông điều gì tạo nên sức hấp dẫn của Nhạc Trịnh?

- Nhà thơ Anh Ngọc: Ai trả lời được thấu đáo câu hỏi “tại sao bạn thích nhạc Trịnh” là dường như đã có thể yên tâm về tình yêu của mình dành cho Nhạc Trịnh .

Đó là sự yên tâm với chính mình vì Nhạc Trịnh có sức hấp dẫn to lớn đối với hàng triệu người, nhưng mỗi người tiếp thu theo một cách khác nhau và thích theo một kiểu khác nhau, thậm chí mỗi thời điểm ta lại thích những bài khác nhau.

Cho đến hôm nay trong nền Tân nhạc Việt Nam, chưa có nhạc sỹ nào được phổ cập trong công chúng như Trịnh Công Sơn.

Ngay với cả những người hiểu biết cũng không thể bằng mấy lời mà nói hết giá trị của Nhạc Trịnh. Ca từ của Trịnh Công Sơn không phải dễ hiểu, thế mà từ những người ít học đến những bậc trí thức uyên bác đều có thể yêu thích.

Nói thật khái quát thì Nhạc Trịnh không gì khác hơn là cách người nhạc sĩ ấy giúp chúng ta thấu hiểu, khám phá chính mình, trò chuyện với chính mình, an ủi chính mình.

Chỉ có như thế con người mới bình tâm để sống với cuộc đời vốn đầy rẫy những mặt trái luôn lăm le kéo bật mỗi cá thể ra khỏi quỹ đạo của con người đúng nghĩa, ra khỏi những niềm vui sống bình dị.

Một điều đơn giản như vậy, nhưng không dễ nhận ra và lý giải. Nên với nhiều người, đôi lúc trong đó có cả tôi, cách lý giải dễ dàng nhất là đổ thừa cho những lý do cảm tính như cách nói của Xuân Diệu ngày xưa: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu…

Yêu ở nhạc và yêu ở người

Người an ủi những linh hồn đau khổ
Bằng nỗi buồn tên gọi Trịnh Công Sơn…


- Về mặt cá nhân mình, ông thích Trịnh Công Sơn ở điểm nào?

- Tôi yêu mến và kính trọng Trịnh Công Sơn cả như một người nghệ sĩ và như một con người.

Tôi sẵn lòng gọi ông là Thiên Sứ, với cách hiểu là một con người tự nguyện hay được phái đến để làm bạn với con người, chia sẻ những buồn vui, được mất của con người, nhất là để nâng giấc con người trong những phút giây cô đơn, đớn đau hay tuyệt vọng…

Anh thuộc phía tủi hờn, anh thuộc phía mong manh
Anh thuộc phía những con người bé nhỏ
Người an ủi những linh hồn đau khổ
Bằng nỗi buồn tên gọi Trịnh Công Sơn…


Tôi đã viết như vậy. Cái cách chia sẻ ấy của Trịnh Công Sơn không phải lúc nào cũng được mọi người thông cảm, nhưng sau rất nhiều tìm kiếm và chiêm nghiệm, dường như cuộc sống đã đứng về phía anh.

Việc càng ngày càng có nhiều người tìm đến với Nhạc Trịnh, nhất là các bạn trẻ, dĩ nhiên là phải trừ những kẻ xu thời, đã chứng tỏ sức mạnh truyền cảm kỳ lạ của Nhạc Trịnh, một dòng âm nhạc nhân bản và thánh thiện như một thứ tôn giáo sinh ra bởi con người và dành trọn cho con người.

Thực lòng tôi không muốn thần thánh hóa một điều gì, nhưng cảm giác ấy của những người đam mê Nhạc Trịnh là hoàn toàn có thật.

- Đó là về nội dung, còn về hình thức thể hiện thưa ông?

- Khi một tác phẩm nghệ thuật đã chinh phục chúng ta đến thế, thì tách bạch giá trị nội dung và nghệ thuật là điều không thể.

Chỉ cần nói thêm một điều không thể không nói, ấy là: Ngoài giá trị của ca từ trong Nhạc Trịnh vốn đã được “chúng khẩu đồng từ” tôn vinh, phần âm nhạc của Trịnh Công Sơn, cũng đủ sức chở ca từ tuyệt vời của tác giả đến với triệu triệu lòng người.

Cũng như con chim phải bay bằng hai cánh, ca khúc đích thực có giá trị phải bay bằng cả âm nhạc và ca từ. Đơn giản thế thôi. Câu chuyện này quá dài cho một bài báo, bạn phải dành cho nó một dịp khác.

"Người ta yêu tôi là yêu dòng sông chảy xiết ở trong tôi"

- Nhưng có rất nhiều người cho rằng nhạc Trịnh Công Sơn đơn điệu, nhất là về giai điệu…

- Một người viết nhiều tác phẩm thì sự gẫn gũi nhau phần nào là có thật và không thể tránh khỏi. Thậm chí nhìn từ một phương diện tích cực, mỗi tác giả thực tài bao giờ cũng có một bút pháp nhất quán, đến nỗi, bịt tên tác giả đi người ta vẫn nhận ra. Tính nhất quán đó làm nên sức mạnh của cả một dòng sông tác phẩm chảy xiết.

Trịnh Công Sơn đã từng nói: Người ta yêu tôi là yêu dòng sông chảy xiết ở trong tôi. Đúng như thế. Chỉ những ai không hiểu hoặc cố tình không hiểu mới bắt bẻ một cách vô lối.

Người ta gọi những người hay bắt bẻ một cách vô lối ấy là “biết một mà không biết hai” hay là những kẻ “ngộ chữ” kiểu câu chuyện tiếu lâm “tràng cảnh tắc đại thanh”, dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

- Ông nghĩ thế nào khi thử so sánh Trịnh Công Sơn và Văn Cao?

- Nhiều người thường cho rằng ba nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, tôi cũng thấy thế.

Nhưng nếu phải bỏ phiếu cho một người thôi, thì tôi chọn Trịnh Công Sơn. Đây là nhận định của cá nhân tôi và tôi tin có nhiều người sẽ cùng quan điểm với mình...

- Ông có thể nói chút ít về nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn...?

- Đây là một vấn đề đến nay vẫn còn là nhạy cảm. Tranh luận thì tốt thôi và cần thiết nữa, nhưng vẫn còn những cách lên tiếng theo kiểu quyền uy, không có tính bình đẳng và dân chủ, nên nhiều người ngại bàn đến chủ đề này.

Tôi chỉ có thể nói rằng tôi vô cùng xúc động vì nhạc phản chiến của anh Sơn, hễ nghe là chỉ muốn khóc.
Macxim Goocky nói: Đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ. Ở đây, trái tim yêu người của anh Sơn quá lớn, nó vượt qua mọi thứ thành kiến và định kiến, để kêu thét lên nỗi đau của con người Việt Nam trong chiến tranh.

Nhà thơ Dương Tường có một câu nói hay: Tôi đứng về phe nước mắt. Tôi cũng đứng về phía ấy. Đơn giản thế thôi.

-----------

Nhạc sĩ Văn Cao viết về Trịnh Công Sơn:

"Mãi hơn một năm sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi mới thật sự mặt nhìn mặt tay cầm tay lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như chúng tôi đã là bạn của nhau tự bao giờ, mặc dù giữa tôi và Sơn còn cả một thế hệ đệm (...)

Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra".

Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới.

Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả bên ngoài biên giới nữa. Và nếu không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 1975..."

Nhạc sĩ Phạm Duy:

"Trịnh Công Sơn tài đấy. Từ năm 1975 đến năm 2000 ở trong nước không ai hơn được. Sơn nói được phần nào nỗi đau của dân chúng, thân phận con người, nhưng Sơn không đa dạng như tôi.

Anh ấy cũng có cái thiệt thòi là tuổi trẻ được học không nhiều. Còn tôi ảnh hưởng từ truyền thống gia đình, mẹ và cha. Cha tôi là nhà văn Phạm Duy Tốn, anh tôi cũng là nhà văn. Cho đến giờ tôi vẫn không ngừng học hỏi".


(Theo Phúc Sơn _ TuanVietNam)
friendly
 
Bài viết: 14
Ngày tham gia: Thứ sáu 29 Tháng 8 2008 1:23 am

Tái diễn trường ca 'Tiếng hát Dã tràng' của Trịnh

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ tư 01 Tháng 4 2009 9:42 am

Tái diễn trường ca 'Tiếng hát Dã tràng' của Trịnh

'Tôi gọi tôi khắp chốn non ngàn, tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố. Xuân hạ thu đông theo gót chân hờ...'. Lời đau đáu về thân phận và tình yêu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong trường ca 'Dã tràng' sẽ được Ánh Tuyết thể hiện.

Dù không được nhắc đến trong di cảo của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Tiếng hát Dã Tràng được xem là trường ca đầu tiên của ông. Bạn bè thân thiết từng học chung với cố nhạc sĩ ở trường Sư phạm Quy Nhơn cho biết, tác phẩm này ghi nhiều dấu ấn ảnh hưởng đến cả cuộc đời sáng tác của ông sau này.

"Tiếng hát Dã tràng" hé mở một giai đoạn khó khăn trong cuộc sống của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân kể lại lý do việc tìm kiếm “Tiếng hát Dã Tràng”: “Sau ngày Trịnh Công Sơn từ giã cõi tạm, họa sĩ Đinh Cường ở Mỹ gửi cho tôi bài hồi ức cảm động Tình bạn hồi sinh sau cơn mê. Trong đó nói rằng, nhắc đến thời Trịnh ở Quy Nhơn phải kể đến Tiếng hát Dã Tràng, bởi nó ảnh hưởng cả quá trình sáng tác sau này của anh. Tôi không hiểu vì sao một tác phẩm quan trọng thế lại không được nhắc đến và quyết định cất công đi tìm”.

Hành trình tìm kiếm khởi nguồn từ Quy Nhơn, Nha Trang rồi về Huế. Nhà nghiên cứu chia sẻ sự may mắn khi được sự chung tay giúp đỡ của nhiều bạn bè, những người từng là giáo sinh và học sinh khóa 1962 - 1964 ở Sư phạm Quy Nhơn, từng tiếp xúc qua và góp mặt trong các buổi biểu diễn Tiếng hát Dã tràng của Trịnh trong thời gian này. Để rồi, khi cầm trên tay 7 trang A4 ghi lại bản trường ca tưởng chừng bị thất lạc từ tay Nguyễn Hồ, người bạn cùng lớp với Trịnh thời ấy, Nguyễn Đắc Xuân đã thực sự xúc động và cảm thấy vô cùng hân hạnh.

Tiếng hát Dã tràng được sáng tác vào đầu thập niên 60 khi gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gặp nhiều khó khăn, suy sụp. Để tránh thời cuộc, nhạc sĩ phải chuyển về Quy Nhơn theo học ngành Sư phạm. Bao khó khăn về kinh tế, tình yêu, đời sống... đổ ập xuống chàng trai Trịnh Công Sơn 23 tuổi. Để tìm nguồn vui, Trịnh tìm đến cuốn khảo luận nói về sự phi lý trên đời của triết gia đạt giải Nobel Albert Camus.

"Tất cả những gì con người nỗ lực xây dựng nên rồi cũng chẳng đi đến đâu, giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai hằng ngày phải đẩy một tảng đá lên núi cao và thả tay cho nó lăn xuống vực và cứ lặp lại như thế. Tất cả nỗ lực không mang lại ý nghĩa, như công dã tràng xe cát. Đồng cảm như thế, Trịnh Công Sơn đã viết lên trường ca đầu tiên của mình khi có yêu cầu từ nhà trường”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân chia sẻ sự cảm thông của mình cùng cố nhạc sĩ. Theo ông, có thể vì hoàn cảnh quá đặc biệt của giai đoạn sống này mà Trịnh không muốn nhắc đến thời gian ở Quy Nhơn cũng như không muốn đề cập đến tác phẩm Dã tràng ca, ghi lại nhiều đau khổ này.

Dã tràng ca gồm 13 đoản khúc. Về hình thức, tác phẩm như một bài thơ dài, thể hiện đầy đủ phong cách âm nhạc Trịnh Công Sơn. Nhiều tâm sự, nỗi ưu tư trong tác phẩm có thể bắt gặp trong các ca khúc sau này của nhạc sĩ như: Lời buồn thánh, Hạ trắng, Đóa hoa vô thường... “Những lời hát viết ra trong giai đoạn sa sút về tinh thần, vật chất có thể khiến người nghe nghĩ sai về con người Trịnh Công Sơn, là bi quan, yếu đuối. Và đây cũng có thể là lý do anh không nhắc đến tác phẩm này. Nhưng bạn bè anh, người yêu nhạc của anh, vẫn muốn hiểu đích thực cuộc đời anh nên muốn tìm ra để được nhớ và nhớ mãi”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nói.

Ánh Tuyết: “Tôi đã khóc khi đọc lời Tiếng hát Dã tràng”
Kỷ niệm 8 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, ca sĩ Ánh Tuyết quyết định tái diễn trường ca Tiếng hát Dã tràng. Đây không phải là lần đầu được thể hiện nhưng là lần đầu tiên, tác phẩm xúc động này được trình diễn trên sân khấu lớn của Nhà hát Hòa Bình.

Ca sĩ Ánh Tuyết chia sẻ: “Hát nhiều lần rồi, nhưng cứ đọc lại những lời hát chất đầy tâm sự của người nhạc sĩ tài hoa, tôi không sao kìm được nước mắt: Từ đó, tuổi hai mươi không còn biết vui. Từ đó, đêm suy tư cho đời lắng sâu, những đêm khuya về rã rời. Bàn tay hoang vu gọi mãi, gọi vào niềm không buốt đau, gọi vào ngày sau nhớ nhau...”.

....


http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/2009/03/3BA0D10A/
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

"Đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây..."

Bài viết mớigửi bởi Sera_Ppy » Thứ tư 01 Tháng 4 2009 10:23 am

Hãy cùng chia xẻ với anh bạn TUẤN ANH (SV năm 3 ĐHQG TP.HCM)

Đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây...

Bài hát đầu tiên mình thuộc không phải là ca khúc dành cho thiếu nhi mà đó là một bài của ông Trịnh, cái này là do bố mẹ... Cái cassette cũ của Liên Xô trầm ấm vang vọng giọng bà Khánh Ly, nhẹ nhàng đưa giấc ngủ của cậu bé con chìm sâu... cứ thế cứ thế giấc ngủ thật nhẹ.

Lớn lên thêm chút nữa, tuổi mới lớn quá quắt và dễ bị ảnh hưởng, nhạc sĩ thời ấy cũng được coi là một bầu chữ nghĩa và một hồn văn thơ. Nghe cũng thú vị nhưng với bố mẹ, nhạc Trịnh lúc nào cũng là tông chủ đạo, mình vẫn nghe nhưng không mấy quan tâm đến những nỗi “đau đáu” của ca từ và giai điệu...

Vào đại học đã được coi là lớn chưa ta, có lẽ đôi chút, nghe và hiểu nhiều hơn, gặp được rất nhiều người cùng thích nghe nhạc Trịnh, họ là những con người thú vị. Mình học được rất nhiều từ họ, chủ yếu là cái tâm, như ông Trịnh đã nói: “...Sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi...”. Điều ít ai trong số đó bàn hay nói về nhạc Trịnh, muốn nói điều gì thì chỉ đơn giản là hát cho nhau nghe một bài nào đó, bạn sẽ hiểu ngay người ta đang như thế nào thôi mà...

Một dịp nọ được đến thăm mộ của Trịnh Công Sơn, cắm lên mộ ông một nén hương vào ngày giỗ, thấy một cô gái cũng lặng lẽ quan sát nơi ông về với cát bụi, có lẽ cô gái này cũng như mình, không quan hệ ruột rà gì với ông nhưng đến thăm mộ vì tấm lòng của một người yêu nhạc... Một lần khác có dịp đến nhà của ông, chỉ đứng ngoài nhìn thôi nhưng cũng đủ để cảm nhận sự bình yên hiếm thấy của nơi này, một ngôi nhà thanh tĩnh nằm giữa lòng Sài Gòn sầm uất... Một kỷ niệm đáng nhớ khác là lần đi nhận vé xem đêm nhạc kỷ niệm bảy năm ngày mất của ông (1-4) tại khu du lịch Bình Quới, đoàn người xếp hàng rồng rắn dài chưa từng thấy để chờ nhận được vé. Lần đó rất vui, xếp hàng lâu và mệt nhưng thật đáng nhớ vì mọi người không sân khấu không micro mà vẫn cứ hát say sưa…

Con người lớn lên và tâm hồn cũng lớn lên, nhiều xúc cảm hơn, mình thì ngược lại... Sự hiền lành ngày nào dần mất đi, cũng ít nhạy cảm như trước nữa, thay vào đó là sự khô khan và thô ráp của tâm hồn, sống lay lắt ít rung cảm, chẳng hiểu vì sao và cớ gì mà cậu bé tỉnh lẻ lại trở nên như vậy, có lẽ vì Sài Gòn này ồn ào quá chăng... Ngày 1-4 lại đến. Chợt nghe bên tai giọng nữ ngọt ngào cất lên bản tình ca quen thuộc, chậm rãi và im lắng nghe lại, bỗng thấy... mình vô cảm đã lâu, nhớ lại một ít kỷ niệm vui, xót xót…

Có lẽ bài ca đã làm mình tỉnh ra đôi phần, âm nhạc cuối cùng cũng về với thiên chức của nó, mình thấy vui “những lúc yêu người”...

* * *

“Người đâu mất người,
Đời tôi ngốc dại,
Tự làm khô héo tôi đây...
Về thu xếp lại,
Ngày trong nếp ngày,
Vội vàng thêm những lúc yêu người”.

. (Chiếc lá thu phai - Trịnh Công Sơn)

TUẤN ANH (SV năm 3 ĐHQG TP.HCM)


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index ... annelID=10
More than I thought I would ever be T.o. a.b
Hình đại diện của thành viên
Sera_Ppy
 
Bài viết: 75
Ngày tham gia: Thứ năm 12 Tháng 6 2008 12:25 am

Re: Tái diễn trường ca 'Tiếng hát Dã tràng' của Trịnh

Bài viết mớigửi bởi dungnd » Thứ năm 02 Tháng 4 2009 2:41 am

Cun_cauquay đã viết:[color=#4000BF][size=110]Tái diễn trường ca 'Tiếng hát Dã tràng' của Trịnh

'Tôi gọi tôi khắp chốn non ngàn, tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố. Xuân hạ thu đông theo gót chân hờ...'. Lời đau đáu về thân phận và tình yêu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong trường ca 'Dã tràng' sẽ được Ánh Tuyết thể hiện.


Nếu được nhờ cun tìm luôn bài hát post cho mọi người thưởng thức nhé!
"Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui..."
Hình đại diện của thành viên
dungnd
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 1528
Ngày tham gia: Thứ bảy 29 Tháng 4 2006 5:40 am
Đến từ: 60 Lê Hữu Trác - Đà Nẵng

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi CONG CAPTAIN » Thứ năm 02 Tháng 4 2009 5:02 am

Hình đại diện của thành viên
CONG CAPTAIN
Mod
Mod
 
Bài viết: 174
Ngày tham gia: Thứ tư 10 Tháng 5 2006 2:02 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ năm 02 Tháng 4 2009 10:33 am

dungnd viết
Nếu được nhờ cun tìm luôn bài hát post cho mọi người thưởng thức nhé!


Bác dungnd ơi, xin lỗi vì "Dã Tràng Ca" được thể hiện hôm 1.4 không như Cún mong đợi (Có lẽ xưa giờ chỉ thích nghe nhạc Trịnh là phải do Khánh Ly hay Trịnh Vĩnh Trinh hát (một số bài). Mà cũng có lẽ Cún hơi khó tính (Biết làm răng chừ!) Thôi thì đành hẹn dịp khác vậy!

Nói có sách mách có chứng nè! http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/2009/04 ... page_3.asp
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Chủ nhật 11 Tháng 10 2009 8:56 am

"Ông Trịnh Công Sơn không của riêng ai. Ông là của tất cả mọi người. Ông yêu dân tộc và quê hương. Việc ông ở lại và nằm xuống trên quê hương là điều đúng. Từ ông, tôi đã thành danh, và quan trọng hơn là thành nhân. Sống cùng với tên tuổi của ông gần 40 năm với những lời ông dặn bảo phải sống giữa đời với một tấm lòng, và sống với người bằng sự tử tế. Ông là một nửa đời sống của tôi." (Khánh Ly)

Khánh Ly sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945, tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai. Hiện cư ngụ tại Cerritos California, Hoa Kỳ. Phu quân của Khánh Ly là cựu ký giả, nhà văn, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan. Khánh Ly có 4 người con, 2 trai 2 gái, đều đã trưởng thành. Năm 1954, lúc 9 tuổi - trước khi theo mẹ di cư vào Nam - trong một Kermesse được tổ chức ở Hà Nội, Khánh Ly tham dự cuộc thi hát được dựng lên theo kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Ngày ấy, bé Lệ Mai hát bài "Thơ Ngây" học lóm từ những cửa hàng trên con phố Hàng Bông, nhưng bé không được giải gì cả.
Cuối năm 1956, dù mới khoảng 11-12 tuổi nhưng với niềm đam mê ca hát có được từ bé, một lần nữa Lệ Mai quyết định đi thi hát. Lệ Mai chuẩn bị đến với cuộc thi quan trọng của mình bằng cuộc quá giang xe rau chở bắp cải đi từ Đà Lạt về Sài Gòn để ghi danh dự buổi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp-Á tổ chức tại rạp Norodom. Em bé Lệ Mai hát bài "Ngày Trở Về" của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau thần đồng Quốc Thắng. Năm 1962, Khánh Ly thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình. Cô bắt đầu trình diễn ở phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Khoảng cuối năm 1962, Khánh Ly rời Sài Gòn lên hát cho một Night Club ở Đà Lạt và cô ở lại đó suốt 6 năm.
Năm 1964, tại Đà Lạt, Khánh Ly gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt. Vào đêm hôm đó, qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều lần Trịnh Công Sơn đề nghị Khánh Ly về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp. Nhưng nếu tin vào định mệnh thì cuộc gặp gỡ của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn tuy bình thản, giản dị là thế song đã trở thành định mệnh của cuộc đời Khánh Ly, là khoảnh khắc lịch sử không riêng của Khánh Ly mà còn của nền âm nhạc nước nhà.
Bởi định mệnh nên đến năm 1967, như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa dòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu. Ngay chiều ấy, trên nền gạch đổ nát có một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Ca sĩ Khánh Ly bắt đầu hát với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại đây.
Kể từ năm 1967, Khánh Ly chính thức đi hát với Trịnh Công Sơn. Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời cho sinh viên tại Quán Văn nằm trên bãi đất rộng sau trường đại học Văn Khoa Saigon. Qua giọng hát khàn đục và quyến rũ của Khánh Ly với những tình khúc và ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn đã làm bàng hoàng ngây ngất cả một thế hệ trẻ vào hai năm cuối của thập niên 60 và tiếp tục như thế ở những năm đầu của thập niên 70, đánh dấu sự thành công tuyệt đỉnh vinh quang của dòng nhạc Trịnh Công Sơn-tiếng hát Khánh Ly. Sau đó, họ tiếp tục trình diễn khắp nơi trên đất nước và nhất là trong sân cỏ trường đại học - nơi Khánh Ly được mệnh danh là "Nữ Hoàng Chân Đất" hay "Nữ Hoàng Sân Cỏ".
Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều băng nhạc tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các cuộn băng của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trung tâm Trường Sơn, Băng nhạc Sơn Ca, Hoạ Mi, Băng nhạc Jo Marcel, ....
Năm 1968, Khánh Ly mở Hội Quán Cây Tre ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng "Trịnh Công Sơn-Khánh Ly hát cho Quê Hương Việt Nam". Năm 1969, Khánh Ly và Trịnh Công Sơn được mời đi lưu diễn tại Âu Châu. Khánh Ly là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên trình diễn tại đây cũng như các nước trên toàn cầu. Cuối năm 1970, Khánh Ly trình diễn tại Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản. Lúc bấy giờ, Nippon Columbia đã mời Khánh Ly trực tiếp cộng tác tại Nhật Bản để trình diễn ở Osaka Fair. Khánh Ly đã thu vào đĩa vàng tại Nhật hai nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn đó là "Diễm Xưa" và "Ca Dao Mẹ" được chuyển dịch sang tiếng Nhật. Tiếp tục cuộc "du ca" với cây đàn của Trịnh Công Sơn, họ đã có những buổi trình diễn trong các trường đại học lớn. Những buổi này, Khánh Ly trở thành "Nữ Hoàng có giọng ca nhừa nhựa".
Trong những lần trình diễn như thế, có khi kéo dài đén cả 4-5 giờ đồng hồ, Khánh Ly đã hát say mê hơn 45 nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn để đáp lại lời yêu cầu của giới thưởng ngoạn. Năm 1970, ngọn lửa chiến tranh bắt đầu lan tràn khắp mọi nơi. Trịnh Công Sơn đã viết lên những bản "Phản Chiến Ca" để nói lên niềm hy vọng cho hoà bình, cho đất nước và con người Việt Nam. Với tâm huyết của một Người Con Gái Việt Nam Da Vàng, Khánh Ly yêu quê hương như yêu đồng lúa chín, và để chia sẻ nỗi niềm khao khát hoài bình, tự do chung cho cả một dân tộc bằng những ca khúc … "Khánh Ly hát cho Quê Hương Việt Nam"...
Năm 1972, Khánh Ly đã mở riêng cho mình một phòng trà ca nhạc mang tên Khánh Ly trên đường Tự Do, số 1214 tại thành phố Sài Gòn.
Năm 1975, Khánh Ly cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ, thành phố Cerritos, CA cho đến bây giờ.
Khánh Ly, tuy phải theo đời cơm áo, mai ra cùng phố xôn xao, bỏ lại những yêu dấu tan theo nhưng Khánh Ly cũng không ngưng phát triển Kiếp Cầm Ca. …
Cuối mùa Xuân năm 2001 - ngày 1 tháng 4, tại quê nhà, một người đã vĩnh viễn ra đi. Ông ra đi để lại nỗi nhớ mênh mang cho bao người ở lại, để lại gia tài nghệ thuật vô giá cho người, cho đời. Vậy mà, với một người, một nửa đã mất đi. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời vào ngày 1 tháng 4 năm 2001. Hồn lìa khỏi xác người ta có còn sống được không. Bóng và Hình chia lìa nhau như thế! Khánh Ly bày tỏ nỗi đau thương, lòng biết ơn qua từng lời ca, giọng nói. Bao năm rồi, những bài hát ấy chất chứa nhiều kỷ niệm của cô và nhạc sĩ. Bất cứ nơi nào, buổi hát nào cô cũng hát bài nào đó của ông vậy mà sao lời ca quen thuộc lại đứt quãng nửa chừng, "cổ họng bằng vàng" không vượt qua nổi những cái nấc âm thầm, lặng lẽ....
Dẫu tuổi không còn trẻ, sức không còn dài như ngày xưa đã có, Khánh Ly vẫn sống cùng những ngày tháng của mình bằng tình cảm chân thành, trân quý, niềm tri ân với những người ơn, người bạn và với khán-thính giả khắp nơi dành cho Khánh Ly tình yêu thương vô bờ bến.
Khánh Ly... đời mãi hát... hát cho đời, cho người - hát với người, cùng người... mãi hát...
(Sưu tầm)

Ca khúc "Những ngày thơ mộng" của Hoàng Thi Thơ và "Ru em" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi hongdaoicd » Thứ hai 12 Tháng 10 2009 1:10 am

Cám ơn Cún những thông tin bổ ích =D> =D> =D> , sao dạo này thấy vắng, định đăng tin tìm trẻ lạc.
hongdaoicd
Mod
Mod
 
Bài viết: 542
Ngày tham gia: Thứ bảy 20 Tháng 5 2006 5:36 am
Đến từ: HÒA CƯỜNG NAM - HẢI CHÂU - ĐÀ NẴNG

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi hongdaoicd » Thứ năm 26 Tháng 11 2009 3:39 pm

Bí ẩn chuyện tình Trịnh Công Sơn - Hồng Nhung
25/11/2009 15:08 (GMT +7)
Hai người bạn thân lúc sinh thời của cố nhạc sĩ họ Trịnh cho biết ông dành cho cô “Bống” một thứ tình yêu rất đặc biệt, trong khi em gái ông là Trịnh Vĩnh Trinh không đồng ý với nhận định này.

Theo nhiếp ảnh gia Dương Minh Long, người từng sống chung nhà với Trịnh Công Sơn và đang nắm trong tay gần 7.000 bức ảnh độc về ông, có vô số bóng hồng từng đi qua cuộc đời Trịnh, nhưng người khiến ông hạnh phúc nhất và đàn ông nhất là Hồng Nhung. Có những hôm hai người giận nhau, nhạc sĩ sinh năm 1939 tìm đến nhà Hồng Nhung, thấy cô đi vắng ông buồn bã cả ngày. Dương Minh Long bèn bày kế hẹn Bống đến nhà ăn cơm không nói cho cô biết, Trịnh cũng có mặt ở đó.



Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Bình thường, tác giả Đóa hoa vô thường là chúa sai hẹn nhưng hôm đó, mới 9h30, ông đã gọi điện hỏi nhiếp ảnh gia chuẩn bị xong đồ ăn chưa rồi đi taxi đến chờ mấy tiếng đồng hồ. 11h Hồng Nhung đến, hai người vừa gặp nhau đã bắt tay, ôm hôn quên hờn giận. Tình cảm của Trịnh Công Sơn với người con gái bé nhỏ Hà Nội từng được gói gọn trong câu hát “Ru em ngồi yên đấy, tôi tìm cuộc tình cho”. Vì thế, sự rời bỏ của Hồng Nhung làm Trịnh Công Sơn vô cùng đau đớn.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái, mẹ nuôi của Bống, người từng có công thông báo với báo giới về chuyện tình Hồng Nhung - Trịnh Công Sơn chia sẻ thêm rằng, sự chia tay này lỗi không phải ở Hồng Nhung hay Trịnh Công Sơn mà là “Hồng Nhung không thể không đi lấy chồng vào một lúc nào đó. Ngày Nhung cưới, Sơn ốm nặng không thể đi được”.

Ngày ông mất, Hồng Nhung đang dở hợp đồng biểu diễn tại Australia, bay về đưa tang rồi lại gạt nước mắt mà đi. Khi ấy, Nhung đang làm dở album “Thủa Bống làm người”. Bống những muốn ra ngay album này, nhưng cha cô khuyên nên để lại đến hai năm sau. Album sử dụng những bức ảnh của Dương Minh Long chụp, bức màu vàng tượng trưng cho dương, bức đen trắng tượng trưng cho âm, nói về sự chia lìa mãi mãi của đôi tình nhân âm nhạc.

Untitled-6.jpg


Với ca sĩ Hồng Nhung. (Ảnh: Dương Minh Long)


Tuy nhiên, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, em gái của Trịnh Công Sơn, không đồng ý với những quan điểm mà hai người bạn ông đưa ra. “Từ ngày anh Sơn mất có rất nhiều tin đồn. Ai thích nói gì thì nói nhưng tôi cho rằng, sự thật vẫn luôn là sự thật, sẽ có lúc phải được sáng tỏ. Đây không phải lần đầu tiên tôi nghe những lời phát biểu về chuyện này, nên không sốc, không ngạc nhiên. Tôi chỉ muốn những người có tâm hãy để anh tôi được yên vì sống hay chết người ta đều cần sự bình yên” - bà Trinh bày tỏ. Theo bà, nghệ sĩ thường rất mơ mộng, cảm xúc làm nên tác phẩm có thể đến từ một hình ảnh đẹp thoáng qua hay những rung động chứ không hẳn từ một tình cảm sâu đậm.

Chia sẻ thêm với chúng tôi, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh cho biết: “Trong cuộc đời anh Sơn, một cô gái mà gia đình xác định là tình yêu sâu đậm của anh là người đẹp Dao Ánh. Anh tôi viết Hạ trắng, Mưa hồng, Còn tuổi nào cho em xuất phát từ tình cảm đó, nhưng bản thân Dao Ánh chưa bao giờ lên tiếng về điều này. Những tình yêu chân thật không nên phô bày mà cần được nâng niu. Sống trong cuộc sống, theo quan điểm của tôi, im lặng là vàng. Trong cái im lặng đó, mình sẽ hiểu nhau”.

Bản thân người trong cuộc, ca sĩ Hồng Nhung cho biết cô không có phát biểu gì. “Tôi chỉ muốn nói, tôi luôn là học trò, là người thân của Trịnh Công Sơn” - cô Bống chia sẻ.

Untitled-4.jpg


Dù một bức màn bí ẩn nhiều tranh cãi luôn bao phủ lên mối quan hệ của Trịnh Công Sơn và Hồng Nhung, cặp nghệ sĩ này đã có rất nhiều cống hiến cho âm nhạc Việt. Nhạc sĩ quê hương Thừa Thiên đã viết ba bài hát: Bống bồng ơi, Thủa Bống làm người, Bống không là Bống là dành riêng cho cô ca sĩ ông gặp và quý mến từ những năm 90 thế kỷ 20.

Trước đó, cái bóng Khánh Ly đã bao phủ quá nặng lên những tác phẩm nhạc Trịnh. Người nghe nhạc Trịnh chỉ chấp nhận cái khàn, cái thư thả, dửng dưng, nhẹ như bấc mà nặng như chì trong cách hát của giọng ca Đà Lạt mà không chịu mở lòng với bất cứ ai khác, bất cứ cách làm mới nào khác. Thế mà Hồng Nhung làm được.

Sự thành công của Bống một phần chính bởi cách ưu ái của Trịnh Công Sơn khi ông nói: “Hồng Nhung làm mới lại những ca khúc của tôi. Có người thích có người không thích. Tuy nhiên tôi thích vì đó là cách biểu hiện mới phù hợp với (...) thời hiện đại - Một sự lãng mạn mới. Nó giúp mình có được một chỗ ngồi trong hiện tại chứ không phải là kẻ nhắc tuồng từ quá khứ”.

Hồng Nhung chọn cách hát dương tính trong khi nhạc Trịnh đầy tính âm, đi vào trong chứ không ra ngoài. Cái đáng kể ở đây là cả hai đã tìm cách hòa nhập vào nhau, nói như cách nói của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái - Hồng Nhung chín sớm và Trịnh Công Sơn xanh muộn lại. Nhung vẫn hát dương tính nhưng biết cách đi vào đáy cảm xúc của ca từ rồi mới ra ngoài, hát đầy khắc khoải. Đó có lẽ là sự kết tinh của mối quan hệ mà Trịnh tự nhận xét là “thân quá không biết nên gọi là gì”.



Suốt 62 năm trong “cõi tạm”, cuộc đời Trịnh Công Sơn bao phủ bởi rất nhiều chuyện tình huyền hoặc, ban đầu là Diễm, là Quỳnh Hương, là Nguyệt, Bích Khê, về sau có Hoàng Lan, Michiko, có V.A, Dao Ánh, Hồng Nhung... nhưng định mệnh vẫn cứ bắt ông phải đứng trước cái ngưỡng của tình yêu.

Cũng có lần Trịnh hân hoan thông báo với mọi người về đám cưới, nhưng rồi ông lại ngậm ngùi bảo thôi. Đó là sự tử tế của người đàn ông không muốn người đàn bà nào vì mình mà khổ. Người đàn bà nào yêu Trịnh cũng rất hạnh phúc bởi những giây phút thăng hoa, nhưng về khía cạnh trần tục thì bất hạnh.

Ông là một tâm hồn mong manh, dễ vỡ, yêu đàn bà bằng một tình yêu mang hơi thở Phật giáo chứ không mang lại cho họ một mái ấm, một đứa con. Các giai nhân từng đi qua đời ông, người ngắn người dài nhưng không ai oán trách bởi đó đều là thứ tình yêu thần tượng chuyển thành tình yêu trai gái.

Khánh Ly không có một cuộc tình với Trịnh Công Sơn, nhưng định mệnh như đã gắn liền tên cô với tên ông. Cô yêu thương Trịnh như một người bạn, một người anh, một người thầy, và cả một người tình. Khánh Ly thường nói: “Tuy không một ca khúc nào của Trịnh Công Sơn viết riêng cho tôi, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hầu hết ca khúc của Trịnh Công Sơn đều được viết cho Khánh Ly”.

Untitled-1.jpg

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và em gái Trịnh Vĩnh Trinh. (Ảnh: Xã luận)


Trong số những bức ảnh của Trịnh Công Sơn, người ta nhắc nhiều đến bức hình ba người, Khánh Ly ngồi trên lòng Trịnh Công Sơn, đứng cạnh đó là chồng cô. Có lẽ, người đàn ông đó hiểu mình có nhiệm vụ bảo tồn thứ tình đã thành vĩnh cửu trong tâm hồn vợ. Điều này vượt qua mọi thói ghen tuông tầm thường. Đó cũng là một nét tinh hoa văn hóa.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
hongdaoicd
Mod
Mod
 
Bài viết: 542
Ngày tham gia: Thứ bảy 20 Tháng 5 2006 5:36 am
Đến từ: HÒA CƯỜNG NAM - HẢI CHÂU - ĐÀ NẴNG

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ tư 31 Tháng 3 2010 7:37 pm

Ca từ Trịnh Công Sơn
--- Hoàng Tá Thích ---

Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn quả thật vô cùng đa đạng. Trong các ca khúc, ta có thể tìm thấy nào là bò, gà, ngựa, vạc, côn trùng, chim chóc, cây cỏ, bào thai, lăng, miếu. Không ít người thắc mắc, không biết “cây cơm nguội” như thế nào, hay loài “sâm cầm” hình dáng ra sao? nhưng lúc hát “Nhớ mùa thu Hà Nội”, chẳng ai cảm thấy trở ngại chút nào vì không hiểu ý nghĩa của những ca từ ấy.
(Sâm cầm là một loài chim quý hiếm chuyên ăn sâm. Thời nhà Nguyễn, làng Nghi Tàm phải đóng thuế hàng năm cho triều đình bằng loại chim này. Lúc Bà Huyện Thanh Quan được triệu vào dạy học trong cung đình đã xin nhà vua cho giảm loại thuế đó vì ngày càng khó tìm cho đủ số).

Trái lại, có những ca từ rất đặc biệt, mà nếu không hiểu rất dễ hát nhầm làm sai nghĩa một cách trầm trọng. Chẳng hạn “làm sao em nhớ những vết chim di” (Diễm xưa) chứ không phải là chim đi. Hay “rọi suốt trăm năm một cõi đi về” (Một cõi đi về), chứ không phải là rọi xuống trăm năm… Hoặc “con tinh yêu thương” mà hát sai thành con tim yêu thương… Những trường hợp đó thì dù có dễ dãi đến mấy, chắc chắn tác giả cũng không thể nào chấp nhận được.

Từ ngữ sử dụng là những chữ bình thường, không cầu kỳ, lạ lẫm, nhưng lại được dùng một cách rất … Trịnh Công Sơn:
Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh” (Tôi ơi đừng tuyệt vọng)
Xin đứng yên trong chiều,
Phơi tình cho nắng khô mau,
Xin đứng yên trong chiều,
Treo tình trên chiếc đinh không
” (Tình xót xa vừa)
Hoặc
Lá hát như mưa, suốt con đường đi” (Em còn nhớ hay em đã quên).
Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa” (Tình sầu).

Nguyễn Du trong “Đoạn trường Tân Thanh” có câu:
“Nào người phượng chạ loan chung
Nào người tích lục tham hồng là ai”
Chữ “lục” và “hồng” để chỉ những người phụ nữ.
Trong “Rơi lệ ru người”, một cách tình cờ Trịnh Công Sơn cũng dùng những chữ sen xanh, sen hồng để chỉ những thiếu nữ xinh đẹp: “Bao nhiêu sen xanh, sen hồng, với dòng sông, hay anh em và những phố phường” Hay “Ngày xưa khi còn bé, tôi mơ có cuộc tình, như mơ ước được gần với những nụ hồng” (Ngày nay không còn bé).

Trong nhạc Trịnh Công Sơn, ca từ chiếm một địa vị rất quan trọng. Hát không rõ lời, người nghe không thể nào hiểu thấu ý nghĩa của ca khúc. Khánh Ly thành công với ca khúc Trịnh Công Sơn không chỉ nhờ giọng ca đặc biệt mà còn nhờ cách nhả chữ rõ ràng làm cho người nghe dễ hiểu những ca từ.

Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang nhiều tính ẩn dụ đôi khi làm người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc (Tương tự như một họa sĩ vẽ tranh trừu tượng đôi khi cũng khó thể giải thích những ý tưởng rất… trừu tượng của mình thể hiện trên tác phẩm hội họa). Chẳng hạn:
Hòn đá lăn trên đồi
Hòn đá rớt xuống cành mai
Rụng cánh hoa mai gầy
Chim chóc hót tiếng sau cùng
…” (Ngẫu nhiên)
Quả đúng là: “Tự mình biết riêng mình,
Và ta biết riêng ta
” (Ngẫu nhiên).

Tuy nhiên lại có trường hợp, chỉ cần một câu trong ca khúc nào đó đủ tác động sâu sắc khiến người nghe suốt đời không thể quên. Một nhà văn, bạn của Trịnh Công Sơn, đã từng nói: “Sau khi nghe câu “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà” (Một cõi đi về), thì tôi cảm thấy không còn sợ cái chết xưa nay vẫn thường ám ảnh mình”.
Một người khác đã nói về ca từ Trịnh Công Sơn như sau: “Tôi rất yêu nhạc Trịnh và thuộc khá nhiều ca khúc nhưng hễ nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, tôi luôn nhớ đến câu “người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm” (Ru ta ngậm ngùi), chỉ một câu đó thôi cũng đủ cho tôi tư duy về cả cuộc đời”.

Có lần, trong một nhà hàng karaoke, Trịnh Công Sơn hỏi một cô gái vẻ khá quê mùa chất phác: “Em nói rất thích ca khúc “Một cõi đi về”, vậy em có hiểu thế nào là một cõi đi về không?” Cô gái ngây thơ trả lời: “Em chẳng hiểu gì cả, nhưng không biết sao mỗi lần hát bài này em lại có một cảm xúc không thể nào diễn tả được”.

Một người bạn trẻ ở Montreal (Canada) sau khi uống rượu ngà ngà, nghe ca khúc “Đêm thấy ta là thác đổ” đã yêu cầu bạn mình lái xe đi hơn 600 cây số chỉ để nhìn thác nước Niagara cuồn cuộn mà tiếp tục uống rượu. Riêng Trịnh Công Sơn, trong những năm sau cùng trước khi mất, bất cứ lúc nào được yêu cầu, anh cũng chỉ hát lui tới hai ca khúc “Mưa hồng” và “Một cõi đi về”. Có thể nói gần như tất cả triết lý về cuộc đời cũng như nhân sinh của anh Sơn đã được tóm tắt trong vài câu: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” (Mưa hồng).
Và “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt.
Rọi suốt trong ta một cõi đi về
” (Một cõi đi về)

Nhạc Trịnh Công Sơn đã đi vào lòng người như thế. Nó đến nhẹ nhàng và đôi khi đọng lại mãi trong tâm tư người nghe.

(Như những giòng sông)
St
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi songhan » Thứ sáu 29 Tháng 10 2010 11:00 pm

Trịnh Công Sơn: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu
"Có người yêu thì hạnh phúc; có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu. Hàng nghìn năm nay con người đã sống và đã yêu - yêu thật lòng chứ không phải giả". Người nhạc sĩ sáng tác nhạc tình hay nhất thế kỷ 20 đã để lại bút tích của mình như vậy.
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại cao nguyên Lạc Giao, tỉnh Daklak.Ông mất vào 12g45 sáng ngày 1 tháng 4, 2001, tại Sài Gòn. Cuộc đời của Trịnh Công Sơn trải qua nhiều giai đoạn lịch sử cũng như giai đoạn sáng tác.
Hình ảnh
Năm 1943 từ Daklak ông theo gia đình chuyển về Huế. Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), vào trường Pellerin, theo học trường Thiên Hựu (Providence). Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Học trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá I (1962-1964). Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm hiệu trưởng một trường tiểu học ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại Sài Gòn.
Hình ảnh
Trịnh Công Sơn tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay “Ướt Mi” (NXB An Phú in năm 1959). Cho đến nay, nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, có thể được phân loại dưới 3 đề mục lớn: Tình Yêu - Quê Hương - Thân Phận.
Hình ảnh
Ngoài âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như: thơ, văn và hội họa.
Hình ảnh
Quan niệm sáng tác của ông: "Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."
Quan niệm sống của ông: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để gió cuốn đi!”
Hình ảnh
Ngoài ra, Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp "Encyclopédie de tous les pays du monde" (Coll. Les Millions).
Hình ảnh
Năm 2004, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã được hội Âm Nhạc Hòa Bình Thế Giới trao giải "Cuộc Đời của Hòa Bình" (Life of Peace) cùng với những nghệ sĩ khác trên thế giới đã dùng âm nhạc để tranh đấu cho hòa bình như Joan Baez, Bob Dylan, Harry Belafonte. Đây là một vinh hạnh không những cho gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà còn là một hãnh diện chung cho mọi người Việt Nam.
NHỮNG NỐT LẶNG CỦA TÌNH YÊU
Hình ảnh
Hình ảnh
"Có một điều gần như không thay đổi là mùa xuân nào cũng từng ấy bạn bè vây quanh, chỉ có khuôn mặt tình yêu là không như cũ". Người nhạc sĩ tài hoa này đã để lại bút tích về cái sự "yêu nhiều mà không hề yêu riêng ai" như vậy.
Ít nhất có 2 lần Trịnh Công Sơn định giã từ cuộc sống độc thân. Lần đầu vào năm 1983 với một thiếu phụ tên là C.N.N. sống tại Paris (Pháp). Bà đã bay về Việt Nam để chuẩn bị. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao, hai người vẫn không thể gắn bó trọn đời bên nhau.
Lần thứ hai, nhạc sĩ họ Trịnh định làm hôn lễ với Vân Anh, cô gái kém ông 30 tuổi, là Á hậu Tiền Phong 1990. Ngay cái nhìn đầu tiên trong đêm thi hoa hậu, Trịnh Công Sơn đã trầm trồ: "Đẹp quá". Lễ cưới đã chuẩn bị, đồ cưới đã may nhưng đến phút chót, ông lại khước từ hạnh phúc chỉ bằng một cái nhún vai. Là người con có hiếu, chuyện lập gia đình chỉ tồn tại khi mẹ ông còn sống, khi bà mất, ý định ấy không còn.
Hình ảnh
Ngoài hai người phụ nữ mà ông định xây dựng tổ ấm, khi nhắc đến Trịnh Công Sơn, người ta nghĩ ngay đến Khánh Ly. Nhưng chuyện kỳ lạ giữa hai con người này là họ chỉ thuộc về nhau trong lĩnh vực âm nhạc. Có lần cô ca sĩ đã níu áo Trịnh Công Sơn và hỏi: "Anh bảo rằng yêu tất cả mọi người, tại sao anh không một lần nói yêu em?". Lúc đó, ông đã quay sang những người xung quanh cười và nói: "Đó, các ông các bà đã nghe cả, còn bảo tôi cặp với Khánh Ly nữa hay thôi?".
Trịnh Công Sơn còn từng nặng lòng với một cô gái rất trẻ. Từ yêu nhạc đến yêu người, người con gái ấy đã nghĩ về ông với tất cả tình yêu và sự hy sinh từ năm 14 tuổi. Cô kể: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ còn Sơn run vì… quá già". Ngày nhạc sĩ mất, cô gái này đã đến chịu tang ông.
Hình ảnh
Thập niên cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê của Trịnh Công Sơn hầu hết dành cho Hồng Nhung. Cô đã khơi dậy trong tâm hồn người nghệ sĩ nguồn sống mới để từ đó, ra đời ca khúc trữ tình Bống Bồng ơi, Thuở bống là người, tặng riêng cô.

NHỮNG NÀNG THƠ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
Ca khúc của anh người ta vẫn hát, vẫn thưởng thức nhưng không phải ai cũng biết được xuất xứ của chúng. Dưới đây là nguồn cội, ý nghĩa của một số bài hát viết về tình yêu của anh.
''Cuối cùng cho một tình yêu''
Ở Đại học Văn khoa Huế lúc ấy có cô Trần Thị Nh. H. Cô không nằm trong danh sách người đẹp, nhưng hay mặc áo dài tím, có dáng đi mềm mại như tơ, hát hay, nên H. rất được mến mộ. Họa sĩ Trịnh Cung lúc còn học Mỹ thuật Huế rất mê Nh. H. Vì tuyệt vọng, anh đã làm nên bài thơ Cuối cùng cho một tình yêu. Bài thơ này đã được Trịnh Công Sơn phổ nhạc và nổi tiếng gần 40 năm qua. Một điều thú vị là: ''Cho đến nay, Nh. H. đã có gia đình, có cháu nội, cháu ngoại mà vẫn chưa biết bài thơ phổ nhạc bất hủ ấy Trịnh Cung đã làm cho chính mình" (lời thú nhận của Trịnh Cung).
Hình ảnh
Tương tự, Trịnh Công Sơn đã yêu Ph.Th. - em ruột ca sĩ Hà Thanh. Sau này, anh kể lại: ''Hà Thanh có đến bốn, năm người em gái, nhưng mỗi lần Ph.Th. đến sau lưng là mình biết ngay bởi mùi hương rất đặc trưng". Chưa bao giờ Trịnh Công Sơn dám tỏ tình với Ph.Th. và Ph.Th. cũng không có một cử chỉ nào khiến người bạn âm nhạc của chị mình hiểu nhầm là cô có cảm tình riêng. Thế mà nhạc sĩ họ Trịnh đã si tình, và nhờ cái vẻ đẹp thánh thiện ''em đứng lên gọi mưa vào hạ'' ấy của Ph.Th., anh đã viết nên mấy bài hát Nhìn những mùa thu đi, Nắng thuỷ tinh và Gọi tên bốn mùa.
Ph.Th. lập gia đình với ông tiến sĩ B. làm trưởng khoa luật rồi làm Bộ trưởng Giáo dục, ''tuổi tác không cân xứng nhưng danh vọng và sắc đẹp thì đẹp đôi''. Sau đó, vì thời cuộc, tiến sĩ B. mất sớm, Ph.Th. vẫn giữ sự đoan trang, đức hạnh nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn tại Boston (Mỹ). Cuối năm 2000, gặp lại Hà Thanh và Ph.Th. tại Huế, vẫn thấy hai chị em này không sợ thời gian, vẫn đẹp như nắng thủy tinh thuở nào. Nhớ lại chuyện xưa, các cô rất vui và xem đó là kỷ niệm của giai đoạn đẹp nhất đời mình. Tuy chỉ mới một chiều, nhưng bạn bè thuở ấy vẫn xem chuyện Trịnh Công Sơn si mê Ph.Th. là mối tình đầu của anh.
''Hai mươi năm xin trả nợ dài''
Khoảng năm 1962, gia đình Trịnh Công Sơn gặp khó khăn về kinh tế, gian phố lớn ở đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa) phải sang cho người khác và qua thuê một căn hộ ở tầng một, dãy lầu mới xây ở đầu cầu Phú Cam. Hàng ngày, Trịnh Công Sơn đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phú Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường Đồng Khánh. Trong đám xuân xanh ấy có cô Ngô Thị Bích Diễm, con gái thầy Ngô Đốc Kh. - người Hà Nội. Bích Diễm giống bố, người dong dỏng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng.
Con người của Diễm rất hợp với cái tên Diễm và cũng thích hợp với tâm hồn bén nhạy của Trịnh Công Sơn. Anh yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua, anh đau khổ vô cùng. Anh trông thấy con đường trước nhà ''dài hun hút cho mắt thêm sâu'' (Diễm xưa). Nhưng anh cũng biết, gặp Diễm để nói lên nỗi đau ấy không phải là chuyện dễ.
Thầy Ngô Đốc Kh. - thân sinh của Diễm, là một ông giáo rất nghiêm. Ông không thể chấp nhận một anh chàng chưa có bằng đại học, tóc dài, cằm lún phún râu chuyện trò với cô con gái đài các của ông. May sao lúc ấy họa sĩ Đinh Cường thuê nhà ở gần nhà Diễm để làm xưởng vẽ. Hai bạn canh chừng những khi thầy giáo có giờ dạy, mà Diễm đang ngồi ở nhà học bài thì liền liều mình qua thăm. Những lần liều mình ấy, có khi Diễm tiếp, có khi Diễm để cho người nhà tiếp.
Khác với Ph.Th., Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho tác giả Ướt mi biết điều đó. Trịnh Công Sơn trút hết nỗi lòng yêu Diễm vào bài Diễm xưa. Nhưng sự việc không dừng ở đó, bởi mấy năm sau, khi Diễm vào học ở Sài Gòn, em gái cô cũng lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Với cái cầu đã bắc từ hồi yêu Bích Diễm, tâm hồn của Sơn qua cây cầu cũ, nói như Đinh Cường ''Sơn lại da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của Dao A. để rồi thất vọng, để rồi...''.
Khác với những lần yêu trước, thất vọng về Dao A., Trịnh Công Sơn không bắt nhạc của anh phải mang cái gánh thất tình của anh. Không ngờ hai mươi năm sau, trải qua bao nhiêu dâu bể, từ bên Mỹ, Dao A. trở về Việt Nam tìm Trịnh Công Sơn. Không rõ Dao A. nói gì với Sơn, và còn gì nữa không, mà anh đã rất hài lòng với thực tại ''hai mươi năm xin trả nợ dài, trả nợ một đời em đã phụ tôi'' (Xin trả nợ người). Trong hai mươi năm ấy, Dao A. đã có gia đình, đã hiểu rõ cuộc đời, nên hết ''phụ tình'' Trịnh Công Sơn.
Đinh Cường đã viết: ''Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao A. về thăm suốt tuần, sáng nào A. cũng đến ngồi bên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà''. Trịnh Công Sơn yêu Dao A. phải trải qua hai mươi năm mới ''nhận'' được lời đáp. Tuy đã quá muộn, nhưng trên cõi đời này có mấy ai được yêu và được nhận trong một khoảng cách dài lâu đến thế đâu!
''Coi như phút đó tình cờ''
Gặp người đẹp, Trịnh Công Sơn dễ yêu, mà không riêng gì Sơn, các bạn thân sơ của anh cũng đều như thế. Sơn không nề hà chuyện yêu một chiều, không sợ đau khổ vì tình phụ, đã yêu là yêu mãi, yêu hoài, yêu hết mình. Nhưng cũng có lúc anh ''chán tình'', vì cho rằng mình yêu nhầm. Ngày ấy, ở bên kia sông Thọ Lộc, thuộc phường Vĩ Dạ, có cô nàng tên Nguyệt rất đẹp. Trịnh Công Sơn đã yêu say đắm. Vô tình, trong lúc nói chuyện với Sơn, cô buột miệng khen một anh chàng nào đó đẹp trai ''vì anh ấy lai Tây''.
Chỉ một chuyện vô tình rất nhỏ, thế mà Trịnh Công Sơn cảm thấy bị xúc phạm, anh không thể hiểu nổi một người mình yêu mà lại có một quan niệm thẩm mỹ lệch lạc đến thế. Tất cả những yêu thương Nguyệt trong lòng anh bỗng nhạt nhoà hết. Anh viết bài Nguyệt ca. Anh ca ngợi cô nàng Nguyệt hết lời khi trăng là Nguyệt. Nhưng khi anh phát hiện ra từ trăng thôi là Nguyệt, Nguyệt không phải là người anh mơ ước, anh xem chuyện anh yêu Nguyệt coi như phút đó tình cờ và về sau anh không nhắc đến cô nữa.
Trịnh Công Sơn yêu rất nhiều, về sau có thêm Bích Kh., có Chu Nguyệt Ng., có Michiko, có Hồng Nhung... nhưng định mệnh vẫn cứ bắt anh phải đứng trước cái ngưỡng của tình yêu. Nếu anh còn sống thêm vài mươi năm nữa, sẽ còn ai nữa... và cũng thế thôi. Nếu anh bước qua khỏi cái ngưỡng ấy thì chưa chắc đã có được cái địa vị người sáng tác nhạc tình hay nhất thế kỷ.

CUỘC SỐNG KHÔNG THỂ THIẾU TÌNH YÊU
Người ta nói trên trái đất không có gì ở ngoài qui luật cả. Nhưng tình yêu hình như cũng có lúc là một ngoại lệ. Tình yêu có thể nâng bổng con người nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm kẻ háo hức. Tôi không tin những người quá lạc quan khi nói về tình yêu bằng thể khẳng định. Người ta có thể tin rằng mình được yêu và cũng có thể hiểu nhầm mình không được yêu.
Tôi không thể nói về một vấn đề mà chính bản thân mình cũng chưa hiểu hết. Chưa hiểu hết là nói theo kiểu đại ngôn chứ thật sự là hoàn toàn không thể hiểu. Nếu có người nào đó thách thức tôi một trò chơi nghịch ngợm thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e, không ai dám tự xưng mình am tường hết nội dung phong phú và quá phức tạp của tình yêu.
Có người yêu thì hạnh phúc; có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu. Hàng nghìn năm nay con người đã sống và đã yêu - yêu thật lòng chứ không phải giả. Thế mà đã có không biết bao nhiêu là tình yêu giả. Cái giả mà rất thật trong đời. Sự giả trá đó lúc biết được thì làm khổ lòng nhau biết bao nhiêu mà kể. Người giả, người thật nhìn nhau lúc bấy giờ ngỡ ngàng không biết thế nào nói được. Người thật thì nằm bệnh, người giả thì nói, cười huyên thuyên. Ðời sống vốn không bất công. Người giả trong tình yêu thế nào cũng thiệt. Người thật thế nào cũng được đền bù.
Tình yêu thời nào cũng có. Nhưng có tình yêu kết thúc bi thảm đến độ có khi con người không dám yêu. Yêu mà khổ quá thì yêu làm gì. Có người đã nói như vậy.
Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: "Cuộc sống không thể thiếu tình yêu".

Trịnh Công Sơn
NHỮNG PHỤ NỮ ĐƯỢC TRỊNH CÔNG SƠN YÊU MẾN NÓI VỀ ÔNG
Đó là Khánh Ly, giọng hát liêu trai đã gắn liền với nhạc phẩm của ông mấy chục năm qua. Hồng Nhung, người được xem như đại diện tiêu biểu cho thế hệ ca sĩ sau này. Và, Trịnh Vĩnh Trinh, cô em út thân thiết với tiếng hát khước từ mọi khuôn phép.
Hình ảnh
Khánh Ly: Bao nhiêu ngày tháng qua đi, anh vẫn không bao giờ thay đổi. Tôi cũng thế. Cả hai không có những thắc mắc về đời sống của nhau, 30 năm trước không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi... Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có. Anh im lặng vì có thể những điều anh nghĩ, anh muốn, không còn cần thiết để phải nói ra.
“Em theo đời cơm áo. Mai ra cùng phố xôn xao. Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo...”. Tôi có cảm tưởng đó là một lời trách móc anh cho tôi. Rất dịu dàng như bản tính anh. Từ bao nhiêu năm nay, câu hát đó theo tôi như một vết thương. Đời cơm áo quả thật đã làm cho tôi lắm ê chề, khổ đau, nhưng những ngày yêu dấu bên anh và bạn bè đã chẳng bao giờ tôi quên... Dù đời sống có lắm tan vỡ, có lắm chìm sâu nhưng mơ ước của một đời người thì trong trái tim bầm dập của tôi, những ngày tháng cũ vẫn là một điểm son, là một bám víu cuối cùng và duy nhất.
Hình ảnh
Hồng Nhung: Hồi đó, chúng tôi gặp nhau hàng ngày, lúc thì đi xem tranh ở gallery, lúc thì đến dự khai trương một nhà hàng của người bạn, lúc thì quanh quẩn nhà anh chuyện trò cả buổi, lúc thì lang thang thả bộ ra quán mì nhỏ gần Hồ Con Rùa ăn sáng... Anh đã luôn yêu thương mọi người, trong đó có tôi, như thế. Anh lúc nào cũng nhẹ nhàng và chẳng nề hà trả lời tất cả những câu hỏi của tôi, nhiều khi là ngô nghê, về đời sống, về âm nhạc, hay về bất cứ điều gì dù nhỏ bé nhất. Tôi kể cho anh nghe những điều làm tôi buồn, những mất mát khi còn nhỏ. Anh chỉ ngồi lặng im. Và sự im lặng của anh làm tôi thấy được lắng nghe, được hiểu và được vỗ về... Anh cho tôi một miếng ngọc hình quả bí, bảo tôi đeo nó sẽ may mắn, vì quả bí hợp với tuổi tôi. Anh cho tôi thấy hạnh phúc thật giản đơn. Và anh là người đã làm cho tôi không cảm thấy xa lạ và bỡ ngỡ ngay những ngày đầu tiên sống ở Sài Gòn.
Hình ảnh
Trịnh Vĩnh Trinh: Tôi nghĩ, điều may mắn cho đời và cho tôi, là được làm em của anh Sơn. Điều này tôi đã được thấy từ những năm còn rất nhỏ. Với tôi, anh Sơn như một người cha, vì thân sinh chúng tôi qua đời rất sớm, từ khi tôi còn trong bụng mẹ. Anh rất thân với tôi tuy anh là lớn nhất và tôi nhỏ nhất trong nhà. Tôi lớn lên cùng với âm nhạc của anh. Anh Sơn có một cuộc sống rộng rãi, phóng khoáng với bạn bè, đồng thời luôn luôn gần gũi với các em. Và những ca khúc anh viết, thì chúng tôi, các em của anh, là những người đầu tiên được nghe hát và được dạy cho hát.
Sai một phút ngàn thu ôm hận
Nghoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm.
Hình đại diện của thành viên
songhan
 
Bài viết: 436
Ngày tham gia: Thứ sáu 19 Tháng 5 2006 7:00 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ hai 28 Tháng 3 2011 12:36 am

Kỳ 1: Còn tuổi nào cho Dao-Ánh-sương-mù
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110 ... ng-mu.aspx
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ ba 29 Tháng 3 2011 12:08 am

Kỳ 2: Yêu một người tên hoa hướng dương

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110 ... duong.aspx
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Re: Chuyện lạ trong tình sử Trịnh Công Sơn

Bài viết mớigửi bởi Cun_cauquay » Thứ tư 30 Tháng 3 2011 2:08 am

Kỳ 3: Ba trăm bức thư - một cõi đi về...

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110 ... di-ve.aspx
"Nơi bền lâu là nơi lắng sâu!"
Hình đại diện của thành viên
Cun_cauquay
Mod
Mod
 
Bài viết: 258
Ngày tham gia: Chủ nhật 29 Tháng 7 2007 2:55 am

Trang vừa xem

Quay về Văn, Thơ ...

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.

cron